Wednesday, 6 February 2013


Một nơi xứng đáng cho Tử Sĩ VNCH

Phan Hạnh

 
Họ chết trận nên sẽ còn trẻ mãi
Còn chúng ta sống sót tuổi già thêm
Lúc trời chiều hay buổi sáng nắng lên
Họ chẳng sợ thời gian làm mệt mỏi.

(Ý từ các câu “They shall grow not old, as we that are left grow old.

Age shall not weary them, nor the years condemn. At the going down of the sun and in the morning” trong bài thơ For the Fallen (Cho Người Nằm Xuống) của thi sĩ người Anh Laurence Binyon, 1869-1943).

 Hy sinh vì tổ quốc được xem là cái chết vinh dự cao cả nhất trong mọi thời đại. Hình ảnh người chiến binh chết trận trong tuổi thanh xuân sẽ giữ nguyên như vậy trong tâm trí người sống, nhất là đối với các bạn đồng ngũ. Tập thể người Việt hải ngoại, dù từng cầm súng dự phần trong cuộc chiến tự vệ chống cộng sản hay không, vẫn không quên tử sĩ VNCH mà thân xác còn nằm lại quê hương. Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa cũ mãi mãi là hình ảnh thiêng liêng trong tâm khảm người dân miền Nam tự do ngày trước và được xem như một thánh địa hành hương. Nhưng theo tin tức mới nhất, các chuyến thăm viếng tập thể ở nghĩa trang này vẫn còn bị nhân viên công an địa phương gây khó dễ. Điều đó cho thấy nhà cầm quyền CSVN vẫn còn dị ứng với tử sĩ VNCH.

 
Tử sĩ VNCH bị phân biệt đối xử tại quê nhà

 Theo thống kê, Việt Nam hiện nay có 342 nghĩa trang và đài tưởng niệm dành cho chiến binh cộng sản tử trận mà họ gọi là liệt sỹ để phân biệt với tử sĩ của phe VNCH. Chưa hết, CSVN đang có kế hoạch tạo lập một nghĩa trang tầm cỡ quốc gia rộng 100 mẫu dành riêng cho cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước. Ngoài ra, đâu đó trên đất nước Việt Nam cũng có những nghĩa trang và đài tưởng niệm tử sĩ ngoại nhân. Hài cốt tử sĩ thuộc quân đội Pháp chôn cất tại nghĩa trang cạnh Ngã Tư Bảy Hiền, gần phi trường Tân Sơn Nhứt mãi đến năm 1986 mới được chính phủ Pháp bốc mộ mang về nước. Còn lại là ba nghĩa trang liệt sỹ Trung Cộng do chính quyền Hà Nội tạo dựng để “đời đời nhớ ơn” các đồng chí lớn phương Bắc đã giúp CSBV xâm lăng thôn tính miền Nam.

 


Một trong 3 nghĩa trang liệt sỹ người Trung quốc đã chết lây khi giúp CSVN xây dựng các tuyến đường chiến lược trong chiến tranh VN. Các nghĩa trang này do CSVN quản trị và bảo trì, hàng năm đều được đặt vòng hoa tưởng niệm ghi hàng chữ “Đời đời nhớ ơn”.

 Tuy cùng là dân Việt con Hồng cháu Lạc như liệt sỹ CSVN, tử sĩ VNCH không được cái may mắn đó. Tất cả nghĩa trang quân đội của VNCH bị xóa vết tích, ngoại trừ Nghĩa Trang Biên Hòa tuy vẫn còn đó nhưng hoang phế, đài tưởng niệm bị phá bỏ. Nếu bảo tử sĩ VNCH là kẻ thù từng gây tổn thất nặng nề cho quân CSBV nơi chiến trận nên vẫn còn bị căm thù và không đáng được tưởng niệm, thế còn 74 chiến sĩ VNCH bỏ mình trong trận hải chiến bảo vệ biển đảo của tổ quốc chống quân Trung Cộng xâm lược đảo Hoàng Sa năm 1974 thì sao? Họ cũng là những anh hùng xả thân cho quê hương giống như 64 thủy binh CSVN đã thiệt mạng năm 1988 ở Trường Sa. Nhà nước CSVN chỉ lập đài tưởng niệm cho 64 chiến sĩ của họ. Vong hồn của 74 chiến sĩ VNCH vùi thây trong lòng biển sâu phải chăng còn tức tửi. Khi hận thù chưa xóa bỏ thì những kêu gọi hòa hợp hòa giải của CSVN vẫn còn là những lời chót lưỡi đầu môi.

 Sau khi chiếm được miền Nam, CSVN lập ra Nhà Trưng Bày Tội Ác Mỹ-Ngụy và theo thời thế đổi tên nó thành Nhà Trưng Bày Tội Ác Chiến Tranh Xâm Lược và sau cùng là Bảo Tàng Chứng Tích Chiến Tranh trên đường Võ Văn Tần, Quận 3 Sài Gòn. Đó là nơi thuần túy dùng cho mục đích tuyên truyền một chiều như tên gọi của nó. Nơi đây, nhà nước CSVN cho trưng bày triển lãm toàn những di vật chiến tranh cùng những hình ảnh bất lợi và bêu xấu Hoa Kỳ và VNCH. Nơi đây, khách thăm viếng sẽ không tìm thấy bất cứ chứng tích tội ác nào của CSBV và Việt Cộng, ví dụ như vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế, cuộc thảm sát Đắk Sơn và vụ thảm sát Châu Đốc, mẫu trưng bày các loại vũ khí phe cộng sản như mìn bẫy, hầm chông, súng AK47, B. 40, hỏa tiễn SAM-3, súng phòng không 37mm, tăng T54, các buồng giam cộng sản trước và sau 1975, v.v. Hận thù đã xóa bỏ chưa?

 Chiến cuộc đã tàn gần 40 năm qua nhưng vết sẹo chưa lành trong lòng người và trên bia mộ nghĩa trang. Người cùng chủng tộc miệng nói Nam Bắc một nhà nhưng sao còn phân biệt đối xử. Dù đứng ở bên nào chiến tuyến ngoài mặt trận, khi người chiến binh nằm xuống rồi, theo lẽ công bằng, đáng lẽ phải được đối xử như nhau vì thật ra bên nào cũng đều là hy sinh cho đất nước.

 Ngày nay, khi một nguyên thủ quốc gia công du nước cựu thù lần đầu, sự thăm viếng đài tưởng niệm tử sĩ quốc gia hầu như đã trở thành một nghi thức ngoại giao. Việc làm đó thể hiện không những sự xóa bỏ hận thù, lòng kính trọng không phân biệt đối với chiến binh mà còn chứng tỏ thái độ của người quân tử có tinh thần hào hiệp mã thượng. CSVN không có được tinh thần đó nên các nghĩa trang tử sĩ VNCH bị cố tình xóa tan dấu vết, hài cốt tử sĩ mất tích không được tìm kiếm, và thương phế binh bị phân biệt đối xử thiếu tình người. Vì thế, việc thực hiện đài tưởng niệm tử sĩ VNCH trên đất nước tạm dung càng trở nên cần thiết để làm nơi an vị anh linh.

 
Nghĩa Trang và Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH ở hải ngoại

 Dự án thực hiện Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên tại Hoa Kỳ và thế giới được điêu khắc gia Phạm Thế Trung thai nghén từ nhiều năm qua. Sau khi đồ án và mô hình tượng năm vị tướng VNCH tuẫn tiết đã hoàn tất, ĐKG Phạm Thế Trung đã liên lạc và trình bày toàn bộ dự án với nhiều tổ chức hội đoàn trong cộng đồng người Việt để tìm sự chuẩn nhận đứng ra khởi công thực hiện.

 Đồng thời gian đó, bác sĩ Huỳnh văn Chỉnh, cựu Y Sĩ Thuỷ Quân Lục Chiến QLVNCH, cũng mang hoài bão thực hiện một nghĩa trang dành cho tập thể quân cán chính VNCH tại hải ngoại nên ra sức vận động và đã nhận được sự hưởng ứng thuận lợi của cộng đồng người Việt lẫn các vị đại diện dân cử chính quyền địa phương. Dự án qui mô trù liệu cần một món tiền nhiều trăm ngàn Mỹ kim. Qua các buổi trình diễn văn nghệ và tiệc gây quỹ, Ủy Ban Vận Động của bác sĩ Chỉnh cũng đã quyên đủ một số tiền đặt cọc và đã hoàn tất việc tậu mua mảnh đất rộng 55 mẫu, gần bằng phân nửa diện tích của Nghĩa Trang Quân Đội VNCH ở Biên Hòa ngày trước rộng 125 mẫu.

 Do duyên may, đến cuối năm 2012, dự án Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH đã được chấp thuận để trở thành một bộ phận của Nghĩa Trang Biên Hòa Hải Ngoại. Đây là một kết hợp thuận lý hoàn hảo vì nghĩa trang là nơi người chết an giấc ngàn thu và cũng là nơi người sống viếng thăm và tưởng niệm giống như nhiều nghĩa trang quốc gia trên thế giới.

 



Tượng đài Seabees trong nghĩa trang Arlington

 Nghĩa trang Quốc Gia Arlington của Hoa kỳ không chỉ có một mà nhiều tượng đài của nhiều đơn vị quân binh chủng. Bức ảnh trên là đài tưởng niệm tử sĩ thuộc đơn vị Tiểu Đoàn Công Binh Kiến Tạo Hải Quân Hoa Kỳ đã hy sinh vì công vụ qua nhiều cuộc chiến từ Đệ Nhị Thế Chiến đến Chiến Tranh Triều Tiên và Chiến Tranh Việt Nam. (Seabees là cách phát âm từ C.B., viết tắt của Construction Battalion).

 Hoa Kỳ có 131 nghĩa trang quân đội nằm rải rác trong 39 tiểu bang và Puerto Rico, một lãnh địa thuộc chủ quyền của Hoa Kỳ. Ngoài ra còn có 24 nghĩa trang chôn cất 125,000 tử sĩ Mỹ tử trận trong hai cuộc thế chiến tại các nước khác, phần lớn là ở Âu châu.

 Với sự lớn mạnh của cộng đồng bốn triệu cư dân gốc Việt hải ngoại hiện nay, chúng ta có quyền kỳ vọng Nghĩa Trang Biên Hoà Hải Ngoại và Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH ở Cali sẽ trở thành một địa điểm hành hương của người Việt tự do.

 



Đồ họa tạm thời Nghĩa Trang Biên Hòa Hải Ngoại của kiến trúc sư Võ Trung

 



Đồ họa Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH của điêu khắc gia Phạm Thế Trung với 5 vị tướng tuẫn tiết theo thứ tự từ trái qua phải như sau

 



Chuẩn tướng Trần Văn Hai

 



Thiếu tướng Phạm Văn Phú

 



Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam

 



Chuẩn tướng Lê Văn Hưng

 



Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ

 
Khi viếng thăm một Viện Bảo Tàng Chiến Tranh của một nước, du khách có thể đánh giá trình độ văn hóa của họ như thế nào. Du khách sẽ không thấy một lời tuyên truyền nào hạ nhục hay chê bai đối phương tại các viện bảo tàng chiến tranh của các quốc gia tự do dân chủ và tiến bộ. Vị lãnh tụ hay quân đội của phe đối nghịch không bị rủa xả hạ cấp. Sự kiện lịch sử xẩy ra dù tốt hay xấu vẫn được ghi lại một cách rõ ràng trung thực để tùy người đi xem tự phán đoán. Nước chủ nhà không che dấu sự thật để lường gạt người đi xem hay tuyên truyền một chiều.

 
Tưởng niệm tử sĩ thuở xưa

 Từ khi có loài người, chiến tranh hầu như luôn xảy ra không nơi này thì nơi khác trên quả địa cầu. Dân tộc theo văn hóa phương Tây thường chỉ quen dựng đài tưởng niệm để đánh dấu chiến thắng vinh quang trong khi dân tộc theo văn hóa Đông phương quan niệm ghi nhớ công ơn người chết đã có từ xa xưa lắm. Các nước phương Tây dựng đài tưởng niệm để ghi nhớ công ơn tử sĩ thật ra chỉ bắt đầu trong ba thế kỷ trở lại đây mà thôi.

 Đài tưởng niệm chiến tranh có thể là một tòa nhà, một tượng đài, hay chỉ là một bức tượng, một kiến trúc để vinh danh một cuộc chiến tranh hoặc chiến thắng, hoặc, theo như quan niệm chiếm ưu thế trong thời hiện đại, để tưởng nhớ những người đã chết hoặc bị thương trong chiến tranh.

  Đối với hầu hết những thời kỳ trong lịch sử nhân loại, đài tưởng niệm chiến tranh được dựng lên để kỷ niệm những chiến thắng tuyệt vời. Ghi nhớ những người chết chỉ là mối quan tâm thứ yếu. Thật vậy, trong thời đại của Napoleon, thi hài của chiến binh tử trận thường được chôn vùi chung trong những ngôi mộ tập thể không mộ bia đánh dấu. Khải hoàn môn (L’ Arc de Triomphe) ở Paris hoặc Cột Tháp Nelson nơi công viên Trafalgar ở London đều không có ghi khắc tên của tử sĩ.
 

Hình: Đài tưởng niệm Cuộc Nổi Dậy của nhân dân Ba Lan ở thủ đô Warsaw

 Đến cuối thế kỷ 19, ý niệm này mới trở nên phổ biến tại các đơn vị trung đoàn bộ binh của quân đội Anh. Những người chiến binh sống sót nghĩ đến việc xây dựng tượng đài để tưởng nhớ những đồng đội của họ đã chết trong các cuộc chiến tranh lấn chiếm thuộc địa nho nhỏ. Và tên tuổi của tử sĩ đã được liệt kê nơi các đài tưởng niệm này.

 Đến đầu thế kỷ hai mươi, một số thị trấn và thành phố ở Vương quốc Anh đã gây quỹ để làm lễ tưởng nhớ những người đồng hương đã chiến đấu và chết trong cuộc chiến tranh lần thứ hai (Second Anglo-Boer War, 1899-1902) giữa Đế quốc Anh và cư dân Hòa Lan ở Nam Phi. Tuy nhiên, chỉ sau khi sự thiệt hại về nhân mạng to lớn từ Đệ Nhất Thế Chiến gây ra, việc tưởng niệm tử sĩ mới được đặc biệt chú trọng. Hầu hết các nơi đều xây dựng một đài tưởng niệm chiến tranh có ghi khắc đầy đủ tên tuổi của những đứa con của địa phương đã đi vào cuộc chiến và không bao giờ trả lại.

 Theo quan niệm của cả thế giới ngày nay, mục đích chính của việc dựng lên đài tưởng niệm chiến tranh (war memorials) không phải là để tôn vinh chiến tranh, nhưng là để tôn vinh những người đã chết. Đôi khi, như trong trường hợp thủ tướng Tây Đức Willy Brandt quì gối trước Đài tưởng niệm Warsaw ngày 07 tháng 12 năm 1970 để bày tỏ một cử chỉ khiêm tốn và sám hối đối với các nạn nhân của cuộc nổi dậy Warsaw Ghetto, đài tưởng niệm cũng có thể được dùng như là biểu tượng của sự cảm thông ngày càng tăng giữa hai kẻ cựu thù.

 Với sự trợ giúp của kỹ thuật hiện đại, một dự án có tầm vóc quốc tế hiện đang  tìm kiếm, kiểm định để lập thành hồ sơ lưu trữ tất cả mộ phần tử sĩ của các cuộc chiến có sự tham dự của khối Thịnh Vượng Chung kể từ năm 1914 trở về sau.

 Những đài tưởng niệm tử sĩ Thế Chiến Thứ Nhất

 

 

 

 

 


 

Hình: Đền Tử Sĩ Vô Danh Menin Gate ở Ypres Bỉ quốc

 Sau Đệ Nhất Thế Chiến, nhiều quốc gia đã nhìn thấy sự tàn phá khủng khiếp khắp mọi nơi về vật chất và sự tổn thất sinh mạng đến mức độ kinh hoàng với tổng số 15 triệu người chết và 20 triệu người bị thương cho cả hai bên. Tuy các quốc gia phương Tây gánh chịu thiệt hại nhân mạng thấp hơn nhưng hậu quả lại khác hẳn: đó là số lượng đài tưởng niệm được xây dựng nhiều hơn. Tại các quốc gia phương Tây, đi đôi với những ghi nhận thành quả chiến thắng về quyền lợi vật chất thu tóm được, hầu hết các thành phố ở các quốc gia này đều xây dựng đài tưởng niệm. Các đài tưởng niệm tại các thị trấn và những ngôi làng nhỏ hơn thường ghi tên của từng tử sĩ nguyên là cư dân của địa phương mình.

 

 


Nghĩa trang tử sĩ của cả hai bên Pháp và Đức chết trong trận đánh ở Verdun năm 1916

Các đài tử sĩ qui mô to lớn hơn của vương quốc Anh tưởng niệm hàng ngàn người chết thì lại không có tên vì bia mộ không được xác định, chẳng hạn như hai đài tưởng niệm tử sĩ vô danh Menin tại Ypres, Bỉ quốc và Thiepval ở Picardie, Pháp quốc, cũng đã được xây dựng. Đài tưởng niệm Memorial Liberty, nằm ở thành phố Kansas, Missouri, là một đài tưởng niệm chung cho tất cả 116,516 tử sĩ Hoa Kỳ hy sinh trong Đệ Nhất Thế Chiến, còn được gọi là Cuộc Chiến Tranh Vĩ Đại.

 Ngoài các đài tưởng niệm tử sĩ bỏ mình nơi chiến trận mà chúng ta thường biết đến còn có những đài tưởng niệm dành cho các nạn nhân của chiến tranh vốn là những thường dân vô tội mà phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Sau khi cuộc đại chiến chấm dứt năm 1918, những người yêu chuộng hòa bình tại Pháp đã lập một số đài tưởng niệm cho nạn nhân của chiến tranh vói các hình tượng đàn bà và trẻ con với nét mặt đau buồn khốn khổ. Các đài tưởng niệm loại này đã gây ra sự giận dữ trong số các cựu chiến binh và quân đội nói chung.

 


 

 

 

 

 

 

Liberty Memorial, Kansas City, Missouri

 
Đài tưởng niệm dành cho nạn nhân chiến tranh nổi tiếng nhất được dựng lên ở Gentioux-Pigerolles vùng Creuse. Dưới cột liệt kê tên của những người chết là tượng đồng của một đứa trẻ mồ côi đang chỉ tay vào hàng chữ  “Maudite soit la guerre” (Nguyền rủa chiến tranh). Làn sóng chống đối dâng quá cao đến nỗi ngày khánh thành chính thức của tượng đài đã phải đình hoãn cho đến năm 1990 và quân nhân đồn trú tại một căn cứ quân sự  gần đó được lệnh khi đi ngang qua đó phải quay đầu đi chỗ khác.

 
Một đài tưởng niệm khác tương tự như vậy nằm tại thị trấn nhỏ là Équeurdreville-Hainneville trong vùng Manche với bức tượng của một góa phụ đau buồn với hai con nhỏ. Hai đài tưởng niệm hòa bình này có vẻ như là không thích hợp với hình thức tưởng niệm trong phạm vi Vương quốc Anh.

 
Vì vậy, mặc dù điều này có vẻ không bao giờ được công nhận một cách tổng quát, trên khắp Vương quốc Anh đã xây dựng nhiều đài tưởng niệm chiến tranh nhưng đề cập khái niệm về hòa bình. Ví dụ như  đài tưởng niệm chiến tranh ở Hartlepool ( trước đây là West Hartlepool) với dòng chữ khắc 'Thine O Lord is the Victory' (Ôi! Chúa tôi là chiến thắng).

 
Những đài tưởng niệm tử sĩ Thế Chiến Thứ Hai trở về sau

 
Có một số đài tưởng niệm Thế Chiến Thứ Nhất sau đó đã được mở rộng thêm để cho đủ chỗ ghi tên của những con dân địa phương đã hi sinh trong Thế Chiến Thứ II.

 
Kể từ đó trở đi, nhiều đài tưởng niệm đều khắc ghi tên tử sĩ trong các cuộc xung đột khác như chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam, nhất là tại các quốc gia phương Tây, chẳng hạn như Bức Tường Đen (Black Wall) tại thủ đô Washington D.C., tên gọi thân mật của Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam, trên đó có chạm khắc tên của hơn 58.000 chiến binh Hoa Kỳ đã thiệt mạng hoặc mất tích khi tham gia trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Bức tường đen nằm trong Khu Tưởng niệm các Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam và được khánh thành ngày 13 tháng 9 năm 1982 với diện tích 8.100 m². Đây là nơi đón tiếp hơn 3 triệu người tới thăm viếng mỗi năm. Bức tường có hình chữ V được làm từ hai tấm đá hoa cương đen mang về từ thành phố Bangalore ở Ấn Độ. Trên thế giới chỉ có ba nơi có nhiều loại đá hoa cương đen và lớn như vậy là Ấn Độ, Thụy Điển và Nam Phi. Chiều dài bức tường là 75 m, cao 3 m. Với sự thêm tên mới đây nhất của 10 người nữa trong năm 2004, bức tường này có tất cả 58.245 tên của các quân nhân nam nữ, trong số đó có khoảng 1.200 người nằm trong danh sách quân nhân Mỹ mất tích trong Chiến tranh Việt Nam.

 


 Đài tưởng niệm tử sĩ Hoa Kỳ bỏ mình trong Chiến Tranh Việt Nam, quen được gọi là Bức tường đen

 
Một đài tưởng niệm chiến tranh cũng có thể là toàn bộ một tòa nhà, thường bao gồm một viện bảo tàng, hoặc chỉ đơn thuần một tấm bảng phẳng. Nhiều đài tưởng niệm chiến tranh mang hình thức của một tượng đài hoặc bức tượng, và phục vụ như là một nơi gặp gỡ cho các nghi thức hành lễ trong Ngày Chiến Sĩ Trận Vong hay Ngày Cựu Chiến Binh (Memorial Day). Vì lẽ đó, những đài này thường được tìm thấy gần trung tâm thành phố, hoặc được đặt trong một công viên hay quảng trường để tạo sự tham dự dễ dàng cho công chúng.

 
Nhiều đài tưởng niệm chiến tranh liệt kê tên của những người chết trong trận chiến. Đôi khi các danh sách này có thể rất dài đến cả hàng trăm ngàn như trường hợp Đài Tưởng Niệm Okinawa có khắc ghi hơn 240,000 tên dân quân tử sĩ của cả hai bên tham chiến và gồm nhiều quốc tịch khác nhau: Nhật, Triều Tiên, Đài Loan, Hoa Kỳ, Anh quốc. Một số đài tưởng niệm chiến tranh được dành riêng cho một trận chiến cụ thể, trong khi những đài khác tổng quát hơn chỉ ghi khắc những giai đoạn khác nhau của cuộc chiến tranh.

 



Cornerstone of Peace - Nền tảng Hòa Bình ở Okinawa.

Nhiều đài tưởng niệm chiến tranh có văn bia nêu tên các đơn vị chiến đấu, tên chiến dịch hay cuộc hành quân tham dự.

 



 Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Úc Đại Lợi tại thủ đô Canberra

 



 Đài tưởng niệm Biệt động quân ở Tô Cách Lan

 
Văn bia Kohima trên Đài tưởng niệm dành cho các chiến sĩ phe Đồng Minh bỏ mình trong trận Kohima trong Thế Chiến Thứ II ghi: “When You Go Home, Tell Them Of Us And Say, For Their Tomorrow, We Gave Our Today” với ý đại khái rằng nếu bạn sống sót trở về, bạn hãy kể cho họ biết về chúng tôi. Và bạn hãy nói với họ rằng vì tương lai của họ, chúng tôi đã hy sinh những tháng ngày hiện tại của đời mình.

 
Nhiều nghĩa trang chiến tranh do Ủy Ban Phần Mộ Khối Thịnh Vượng Chung quản trị đều có một mẫu chung đài tưởng niệm chiến tranh giống hệt nhau được gọi là Thánh Giá của Hy Sinh do Sir Reginald Blomfield thiết kế có chiều cao thay đổi từ 18 ft đến 32 ft, tùy thuộc vào kích thước của nghĩa trang. Nếu số lượng mộ phần từ 1000 trở lên, nghĩa trang Commonwealth đó sẽ chứa một Tảng đá Tưởng niệm do Sir Edwin Lutyens thiết kế có khắc hàng chữ "Their name liveth for evermore ", tương tự như câu “Tổ quốc ghi ơn” của Việt Nam ta. Tất cả các tảng đá tưởng niệm đều có kích thước dài 11ft6 in và cao 5ft với ba bậc buớc lên.

 
Đài Tưởng Niệm và quan điểm đối nghịch

 
Chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi đài tưởng niệm chiến tranh gây tranh cãi về mặt chính trị vì quan điểm khác biệt giữa các nước cựu thù.

 
Một ví dụ đáng chú ý là những tranh cãi xung quanh Đền Yasukuni Shrine ở Nhật Bản, nơi có thờ tro cốt của một số quân nhân Nhật đã bị kết án gây tội ác trong Đệ Nhị Thế Chiến. Đại diện người Trung Hoa và Đại Hàn thường biểu tình phản đối các chính trị gia Nhật Bản đến lễ bái ở đền thờ này. Những lần viếng Đền trong quá khứ đã dẫn đến cuộc xung đột ngoại giao nghiêm trọng giữa các quốc gia liên hệ, và các doanh nghiệp Nhật Bản bị tấn công ở Trung Hoa sau khi cựu Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi tới viếng đền thờ. Sự kiện này đã được loan truyền rộng rãi và nhận được những công luận chỉ trích trên các phương tiện truyền thông Trung và Hàn Quốc.

 
Trong một trường hợp tương tự, cựu Thủ tướng Đức Helmut Kohl đã bị hai nhà văn Günter Grass và Elie Wiesel chỉ trích vì ông đã đi cùng với tổng thống Mỹ Ronald Reagan đến thăm nghĩa trang chiến tranh ở Bitburg, nơi có cả những ngôi mộ của tử sĩ Đức Quốc Xã. Điều này không giống như trường hợp ngôi đền tử sĩ Yasukuni của Nhật vốn thường dính líu đến yếu tố cố ý bất chấp dư luận quốc tế.

 

Cổng đài tưởng niệm Trung Đoàn Khinh Binh Hoàng gia Dublin

 
Do chính quyền thay đổi, các câu trích dẫn của Joseph Stalin trên Đài Tưởng niệm Chiến tranh Thế giới Thứ II của Liên Xô thường xuyên bị thay thế sau khi ông chết. Các đài tưởng niệm đó thường được xây dựng trong trung tâm thành phố và bây giờ đôi khi bị coi là biểu tượng cho thời kỳ chiếm đóng của Liên Xô và bị loại bỏ, chính vì vậy lại có thể châm ngòi cho các cuộc phản đối.

 
Một trường hợp đối nghịch khác nữa là Kiến ​​trúc vòng cung tưởng niệm Trung Đoàn Khinh Binh Hoàng gia Dublin gồm toàn lính Ái Nhĩ Lan tham dự cuộc Chiến Tranh Boer ở Nam Phi được xây dựng vào năm 1907 nơi công viên St. Stephen’s Green tại trung tâm thủ đô Dublin. Cổng đài này thường bị người Ái Nhĩ Lan quá khích chống Đế quốc Anh gọi là "Cổng của Những Kẻ Phản Bội Tổ Quốc". Độ sắc nét của tranh cãi đã bị mờ dần, và trong khi thuật ngữ "Cổng của Những Kẻ Phản Bội Tổ Quốc" vẫn còn được dùng thường xuyên trong câu chuyện mạn đàm của cuộc sống hàng ngày ở Dublin, nó gần như là mất đi ý nghĩa xấu xa ban đầu.

 
Ở Úc Đại Lợi, vào năm 1981, nhà sử học Henry Reynolds nêu lên vấn đề liệu có nên xây đài tưởng niệm chiến tranh để vinh danh thổ dân bản địa Úc đã bỏ mình vì chiến đấu chống lại quân xâm lược đế quốc Anh trên quê hương của họ hay không. Ông Henry Reynolds nói: "Thế thì chúng ta phải giải quyết bằng cách nào đây về sự hy sinh của thổ dân Úc? Người Úc da trắng thường xuyên nói rằng hãy cho chuyện đó đi luôn vào quên lãng. Nhưng nó sẽ không bị quên không thể quên. Những kỷ niệm đen tối đó quá đậm sâu và vết sẹo còn ràng ràng vì nó xảy ra cách đây chưa lâu. Và từ ngữ quên lãng quả là một mô tả lạ lùng khó hiểu đối với một cộng đồng quốc gia luôn tôn thờ tử sĩ và luôn ghi khắc câu "Chúng Tôi Không Bao Giờ Quên” trên mọi đài tưởng niệm khắp nước.”

 
Năm 1988, để  đánh dấu kỷ niệm 200 năm lập quốc, chính phủ Úc chính thức cho trưng bày trước công chúng tại Nhà Triển Lãm Quốc Gia ở thủ đô Canberra một tác phẩm điêu khắc gồm 200 thân gỗ rỗng ruột tượng trưng cho 200 cổ quan tài tử sĩ thổ dân bỏ mình trong công cuộc chiến đấu chống lại sự xâm nhập của người da trắng. Xem ra người Úc da trắng còn có lương tri đã trả lại công bằng cho lịch sử. Còn nhà nước CSVN thì biết đến bao giờ.

 
Kết luận

 
316.000 tử sĩ VNCH chưa có một đài tưởng niệm tầm cỡ quốc gia nào dành riêng cho họ. Bốn chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn” được nhắc nhở trong sách vở và trong tâm trí của tập thể cựu chiến sĩ VNCH và cộng đồng người Việt quốc gia ở hải ngoại nhưng chưa được khắc ghi trên một đài tưởng niệm tử sĩ quốc gia.

 
Hy vọng một ngày các sự kiện của lịch sử giữ nước sẽ được tái thẩm định để trả lại sự công bằng và sự thật trên quê hương.

 
Hy vọng một ngày không xa, dự án Nghĩa Trang Biên Hòa Hải Ngoại với Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ VNCH sớm hoàn thành. Chừng đó, chúng ta có được một địa điểm thường trực cố định trang nghiêm xứng đáng để cử hành các buổi lễ quan trọng. Chừng đó, du khách người Việt mỗi khi đến Cali sẽ có dịp hành hương thăm viếng nghĩa trang đầu tiên ở hải ngoại dành cho tập thể quân cán chính VNCH. Đến để dâng một bó hoa hay thắp một nén nhang, để nghe trong lòng dâng tràn một niềm cảm xúc hãnh diện. Đến để cảm thấy ấm lòng như đang đứng giữa một phần đất thân quen của quê hương.

 
Ta không thể sống ở quê hương nhưng quê hương luôn sống mãi trong ta.

 
Phan Hạnh.

 

 

Vì sao chủ nhật lại buồn


Vì sao chủ nhật lại buồn

Chắc bạn già gần bảy bó còn nhớ ca sĩ Connie Francis hát bài Never On Sunday trong thập niên 1960 khi bạn còn đi học, khi bạn mới vừa biết yêu. Bài hát “Hôn em ngày nào cũng được trừ ngày Chủ Nhật” thịnh hành thời ấy, tôi chỉ nghe và cảm thấy nó vui vui hay hay, cũng bắt chước bạn bè hát theo sẵn dịp luyện giọng phát âm Anh ngữ. Nghe và tưởng tượng đó là lời của người yêu nói với mình.

Oh, you can kiss me on a Monday a Monday a Monday is very very good

Or you can kiss me on a Tuesday a Tuesday a Tuesday in fact I wish you would

Or you can kiss me on a Wednesday a Thursday a Friday and Saturday is best

But never ever on a Sunday a Sunday a Sunday cause that's my day of rest…

  Nửa thế kỷ sau, những thiếu nữ mộng mơ thời ấy giờ đây dường như chẳng còn bà nào hát câu đó với chồng nữa. Và ngày nào trong tuần đối với những ông già bà già đã nghỉ hưu đều là ngày Chủ Nhật không có nụ hôn nên hay nhớ dĩ vãng và hơi “bị” buồn.

Nhưng dù còn trẻ, có khi ngày Chủ Nhật cũng buồn như thường khi mà “Bạn bè rời xa chăn chiếu… Bơ vơ còn đến bao giờ…” như trong bài nhạc “Lời buồn thánh” của TCS. Lại cũng một bài nghe hay hay và buồn buồn, mặc dù tôi chẳng hiểu rõ lắm ý nghĩa quá bóng bẫy của ông nhạc sĩ này muốn nói cái gì: “Chiều chủ nhật buồn… Nằm trong căn gác đìu hiu… Tôi xin em năm ngón tay thiên thần… Trong vùng ăn năn, qua cơn hờn dỗi… Tôi xin năm ngón tay em đưa vào cô đơn…” Nghe “Trong vùng ăn năn” tôi lại nghĩ đến “Trong vùng địch” mang hơi hướm chiến tranh. Còn câu “Tôi xin năm ngón tay em đưa vào cô đơn” thì tôi chịu thua “hổng hiểu!”

Nhưng thà “hổng hiểu” những “Lời buồn thánh” cũng “hổng sao”, “hổng hại” và “hổng chết thằng Tây nào”. Còn cái bài Gloomy Sunday sau đây mới ghê.

Nhạc sĩ Nam Lộc dịch Gloomy Sunday sang Việt ngữ và đặt tựa là Chủ Nhật Xám và hai ca sĩ Nguyễn Hồng Nhung và Thùy Hương đã trình bày xuất sắc trong ASIA DVD 56 chủ đề Mùa Hè Rực Rỡ 2007 - Yêu Đời, Yêu Người. Khi xem DVD này, nghe một MC mới rất duyên dáng là Thùy Dương giới thiệu và kể sơ lai lịch của bài hát, tôi khá hồi hộp nôn nao chờ nghe cho biết xem bài hát có ma lực gì ghê gớm thế.

Lời Việt (Chủ nhật xám) của Nam Lộc

Từng đêm buồn thao thức… cô đơn và nhớ thương anh…

Nhớ anh từng phút trong cuộc sống mơ hồ giữa dòng đời…

Những bông hồng trắng kia… mộ vắng, khóc thương khi mất anh.

Cỗ xe buồn bã đưa người …đến đây cũng khuất mờ…

Chờ em người yêu ơi… chờ em, ta cùng chết bên nhau.

Dưới chân tượng đá… thiên thần khóc… cho tình yêu chúng ta…

Ô ồ ô ố… với... bao nỗi sầu… Ô ồ ô ố… với... bao nỗi sầu…

Hoàng hôn dần buông… một mình ta… uống từng chén men say…

Cớ chi mình kéo… lê cuộc sống… bao ngày chủ nhật buồn…

Tiếng kinh từ giã… không buồn bã… tiễn em ra nghĩa trang…

Những bông hồng thắm… tươi rực rỡ… vui mừng bên mộ phần…

Giờ không còn mơ… bên mộ đá… em được sống bên anh…

Đến hơi thở cuối… em cầu chúc… cho tình yêu chúng ta... ớ…. đừng xót xa…

Trong mơ… dường như bóng anh trở về…

Em mơ… ta gặp nhau… anh ngủ yên… trong lòng em… và mãi mãi... mãi…

Và em thầm mong, giấc mộng hoang, dù là những cơn mơ.

Cũng xin được nói cho người biết em yêu anh thiết tha...

Chủ nhật u sầu ... Chủ nhật xám ....

 Vì Nam Lộc dịch lời cho Nguyễn Hồng Nhung hát nên người sống là con gái buồn thương than khóc người yêu đã chết và hẹn sẽ tái ngộ chàng bên kia thế giới. Thật ra thì lời của bài Gloomy Sunday nguyên thủy bằng chữ Hung Gia Lợi do thi sĩ Ladislas Javor viết sau cái chết đột ngột của vị hôn thê.

Nếu bạn quỡn thì vào link này nghe thử đi nhé. Riêng tôi vốn là người vui tánh và đang có người đồng cảm như bạn, tôi nghe Gloomy Sunday bao nhiêu lần xong cũng chỉ đập đầu xuống gối ngủ luôn………………. tới sáng! Tự tử làm quái gì cho phí cuộc đời. Đôi chân dù có yếu nhưng tâm hồn vẫn còn ấm áp những yêu thương mà.

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Chu-Nhat-Xam-Nguyen-Hong-Nhung/IW67ZBCO.html

Lời Anh bài nhạc Gloomy Sunday

Sunday is gloomy… My hours are slumberless…  Dearest the shadows…

I live with are numberless… Little white flowers… Will never awaken you… Not where the black coach… Of sorrow has taken you…  Angels have no thoughts…  Of ever returning you…  Would they be angry…  If I thought of joining you? Gloomy Sunday… Gloomy is Sunday…  

With shadows I spend it all…  My heart and I… Have decided to end it all… Soon there’ll be candles… And prayers that are said I know…

But let them not weep… Let them know that I'm glad to go… Death is no dream… For in death I’m caressing you… With the last breath of my soul… I’ll be blessing you… Gloomy Sunday… Dreaming, I was only dreaming… I wake and I find you asleep… In the deep of my heart… here…

Darling I hope… that my dream never haunted you… My heart is telling you… How much I wanted you… Gloomy Sunday… Gloomy Sunday…

Gloomy Sunday

Một phiên bản khác

Sadly one Sunday, I waited and waited

 With flowers in my arms, for the grief I'd created

 I waited 'til dreams like my heart were all broken

 The flowers were all dead and the words were unspoken

 The grief that I knew was beyond all consoling

 The beat of my heart was a bell that was tolling

 Saddest of Sundays

 Then came the Sunday when you came to find me

 They brought me to church and I left you behind me

 My eyes would not see what I wanted to love me

 The earth and the flowers are forever above me

 The bell tolled for me and the wind whispered 'never'

 But you I have loved and I bless you forever

 Last of all Sundays

 

 Một bản dịch Việt ngữ:

Một chủ nhật thật ảm đạm. Tôi vẫn mãi đợi và đợi...

Với những bông hoa trên tay cho những ảo tưởng mà tôi đã tạo ra.

Tôi chờ cho đến giấc mơ, giống như trái tim tôi, tất cả đã vỡ tan.

Những bông hoa đã chết và thế giới đều lặng thinh.

Ngày buồn nhất trong tất cả những ngày Chủ Nhật...

Và một ngày Chủ Nhật đến khi em tìm tôi.

Họ đưa tôi đến nhà thờ và tôi đã bỏ em lại đằng sau.

Đôi mắt tôi không thể nhìn thấy một điều nào đó để tôi tự yêu bản thân mình.

Đất và hoa sẽ mãi mãi ở trên xác tôi...

Tiếng chuông nguyện hồn tôi và cơn gió khẽ thầm "Không bao giờ!"

Nhưng tôi vẫn yêu và vẫn sẽ mãi cầu phúc cho em.

Ngày cuối cùng của tất cả những ngày chủ nhật...

Lời Việt bài Chủ nhật buồn của Phạm Duy

Chủ nhật buồn đi lê thê, cầm một vòng hoa đê mê, bước chân về với gian nhà với trái tim cùng nặng nề xót xa gì? Oán thương gì?

Đã biết nuôi hương chia ly trót say mê đã yêu thì dẫu vô duyên còn nặng thề.

Ngồi một mình nghe mưa rơi, mặc lệ tràn câu thiên thu, gió hiên ngoài nhắc một loài dế giun hoài, ru thương ru ơi ru... hời.

Chủ nhật nào tôi im hơi, vì đợi chờ không nguôi ngoai, bước chân người nhớ thương tôi, đến với tôi thì muộn rồi, trước quan tài khói hương mờ, bốc lên như vạn ngàn lời, dẫu qua đời.

Mắt tôi cười vẫn đăm đăm nhìn về người hồn lìa rồi, nhưng anh ơi tình còn nồng, đôi con ngươi nhắc cho ai biết cuối đời, có một người yêu không thôi ơi hỡi ơi... người.

Nếu chỉ đọc lời không thôi, chắc chắn một điều là chẳng ai thấy bài hát ghê rợn buồn thảm đến nỗi phải tự tử. Chúng ta có nghe ai đọc truyện tình cảm bi thảm của Quỳnh Dao mà chết đâu. Thế thì điệu nhạc buồn thảm mới tác động người nghe một cách mãnh liệt như vậy.

Bài hát định mệnh

Sau khi bản nhạc gốc được phổ biến vào năm 19 băm mấy khi chúng mình chưa ra đời, chỉ trong vòng vài năm đầu, đã có hàng trăm người tình quẩn trí nhẩy lầu tự tử khi nghe xong bài hát này, khiến quần chúng đặt cho nó cái biệt danh là “Hungarian Suicide Song”. Và đó cũng chính là lý do mà nhạc phẩm này đã từng bị cấm phổ biến ở một vài quốc gia cũng như một số cơ sở truyền thanh lớn.

Bản nhạc có sức mạnh chết người của Rezso Seress được giới thiệu đến giới thưởng ngoạn ở Hoa Kỳ năm 1936 khi hai nhạc sĩ Sam Lewis và Desmond Carter dịch nó qua Anh ngữ. Từ đó đến nay, bản nhạc không ngừng được hàng bao nhiêu ca sĩ trên khắp thế giới thu thanh và phát hành nhạc trong các đĩa nhạc của họ. Gloomy Sunday cũng được chọn làm nhạc nền cho nhạc kịch và phim ảnh.

Vài nét về nhạc sĩ Rezso Seres

Rezso Seres (1899-1968) là nhạc sĩ dương cầm người Hung Gia Lợi gốc Do Thái. Ông sống hầu như suốt cuộc đời trong nghèo khổ ở thủ đô Budapest và từng bị bắt đi trại lao động dưới thời Đức Quốc Xã chiếm đóng trong Thế Chiến Thứ Hai. Sống sót trở về, ông làm việc trong sân khấu kịch nghệ và làm người biểu diễn đu giây nhào lộn trong gánh xiệc. Sau một tai nạn nghề nghiệp, ông tự học dương cầm và chỉ đàn với một tay lành lặn. Ông cũng tập hát và viết một số các bản nhạc, trong đó bài Szomorú Vasárnap (Chủ Nhật Buồn), phiên bản gốc tiếng Hung Gia Lợi, tiếng Pháp là Sombre Dimanche và tiếng Anh là Gloomy Sunday. Bản nhạc buồn thảm này nổi tiếng vì nó liên hệ đến nhiều người tự tìm cái chết sau khi đã nghe nó và được mệnh danh là bài hát của tử thần hay bài ca tự sát Hung gia lợi.  

Bản nhạc rời được phát hành cuối năm 1933. Có nguồn tin cho rằng bản nhạc mãi đến sau Đệ Nhị Thế Chiến mới thêm vào và đến năm 1946 tác quyền mới được thành lập.

Gloomy Sunday là một bài hát kể lể về một tình yêu đã mất. Chàng nghệ sĩ nghèo Rezso Seress vừa bị người con gái mà chàng yêu tha thiết cự tuyệt. Luôn tôn thờ tình yêu của mình, Rezso đã đau khổ thật nhiều. Trong nỗi thất vọng, chàng đã sáng tác ra bài hát sầu thảm nhất trong đời vào ngày Chủ Nhật thật ảm đạm của tháng 12 năm 1932 lúc chàng đang cư ngụ tại kinh thành hoa lệ Paris tìm cách mưu sinh như nhiều nghệ sĩ từ các nước khác.

Soạn xong nhạc khúc, Reszo cảm thấy như được giải tỏa, ưng ý và bớt bi quan dù tình yêu không bao giờ trở lại. Reszo mang bản nhạc vừa soạn đi giới thiệu với các hãng sản xuất đĩa nhạc nhưng chàng chỉ nhận được những ý kiến phê bình không mấy hứa hẹn. Người ta ngầm bảo chàng rằng theo các tiêu chuẩn âm nhạc thời bấy giờ, nhạc khúc của chàng “chưa đạt” để thu thanh. Các nhà sản xuất đĩa nhạc cho rằng bài nhạc đó nghe rất lạ và quá buồn thảm để trở thành một đĩa nhạc ăn khách.

Một nhà sản xuất trả lời rằng “Bài nhạc chất chứa trong đó một nỗi tuyệt vọng thôi thúc khá kinh khủng. Tôi nghĩ rằng sẽ chẳng lợi ích gì cho bất cứ ai nghe một bản nhạc như vậy.” (There's a sort of terrible compelling despair about it. I don't think it would do anyone any good to hear a song like that.)

Nhưng điều đó không làm cho chàng nhạc sĩ nghèo Reszo ngừng cố gắng để tìm mối tiêu thụ. Cuối cùng rồi chàng cũng đã tìm được một nhà sản xuất chịu phát hành nhạc của chàng. Và khi bài hát được tung ra thị trường thì cũng là lúc nhiều sự việc lạ lùng bắt đầu xảy ra.

Ảnh hưởng của Gloomy Sunday

Khi bài hát được tung ra thị trường, bắt đầu xuất hiện những chuyện kỳ lạ. Một người đàn ông đang ngồi trong một quán café đông đúc tại Budapest đòi ban nhạc trình tấu bản "Gloomy Sundaỵ" Người đàn ông ngồi tại bàn ông ta vừa nhấp rượu champagne vừa lắng nghe bài nhạc. Khi bản nhạc chấm dứt, người đàn ông trả tiền, rời khỏi quán, và vẫy một chiếc xe taxi. Vừa ngồi vào trong xe, ông ta liền lôi ra một khẩu súng và tự kết liễu đời mình.

Tại Berlin, một thanh niên sau khi nghe bài hát đã phàn nàn với bạn bè rằng anh ta bị ám ảnh bởi giai điệu và ca từ của nó. Anh ta rơi vào trạng thái trầm cảm mà không sao thoát ra được. Cuối cùng anh ta dùng súng bắn vào đầu tự vẫn. Vài ngày sau, cũng tại Berlin, người ta phát hiện một cô gái treo cổ tự tử và dưới chân cô là bài Szomorú Vasárnap. Báo chí bắt đầu loan tin về hiện tượng này, và liên tiếp các vụ án tương tự xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới như Hungary, Pháp, Mỹ. Bản thân Seress cũng rất kinh ngạc và không tin vào điều này.

Một cô thư ký xinh đẹp tại New York tự tử trong căn chung cư bằng hơi ga đã để lại một mẩu thư tuyệt mệnh yêu cầu bản nhạc "Gloomy Sunday" được phát thanh trong tang lễ cô.

Nhiều nơi khác trên thế giới cũng có tin tường thuật về những cái chết được cho là có liên quan đến bài nhạc ấy: ca sĩ chết trong lúc hát, người ta chết trong lúc nghe.

Cuối cùng thì cơ quan truyền thông BBC của Anh Quốc phải cấm hẳn bài "Gloomy Sunday" vào những buổi phát thanh thường lệ trên làn sóng. Ban giám đốc của BBC không thể làm ngơ trước những nhiều sự than phiền của thính giả về bài hát ấy.

Nhiều hệ thống viễn thông Hoa Kỳ cũng nhanh chóng làm giống vậy. Có người còn đi xa hơn khi họ đã đâm đơn kiện bài hát. Luật sư của người kiện lập luận rằng tác giả của bản nhạc cũng có chịu trách nhiệm đối với hàng loạt cái chết đó. Nhưng điều này lại mang đến tác dụng ngược. Các đài phát thanh càng cấm hát thì Gloomy Sunday càng trở nên phổ biến hơn.

Bản nhạc Chủ Nhật Buồn dường như ảnh hưởng mọi người không phân biệt tuổi tác hay tầng lớp xã hội. Một cụ ông 80 tuổi tự tử bằng cách nhảy từ cánh cửa sổ lầu bảy xuống trong khi bài nhạc đang được phát thanh. Một cô gái 14 tuổi chết đuối khi trong tay còn cầm một bản copy của bài "Gloomy Sunday".

Một nạn nhân trẻ tuổi khác, một cậu bồi người Ý, đi ngang một người ăn xin trên lề đường đang hát bản nhạc "Gloomy Sunday" đột nhiên dừng lại, để chiếc xe đạp của cậu sang một bên, tiến dần đến chỗ người ăn xin và cho ông ta hết số tiền mà cậu đang có. Sau đó chẳng một lời nào, cậu đi đến một cây cầu gần đấy và tự nhảy xuống tìm lấy cái chết.

Báo chí lượm lặt hết tất cả những câu chuyện và gửi phóng viên đến phỏng vấn Rezso và hỏi người nhạc sĩ này nghĩ gì về điều ấy. Nhưng Rezso cũng bàng hoàng như bao người khác. Chàng cũng chẳng hiểu vì sao bài hát của mình đã gây ra nhiều điều bất thường đến vậy.

Từ đó, dường như chính chàng nhạc sĩ nghèo Rezso cũng bị lây nhiễm bởi những điều bất hạnh theo sau bài nhạc bất cứ khi nào và nơi đâu khi bản nhạc được tấu lên. Khi bài "Gloomy Sunday" trở thành một trong những bản nhạc phổ biến nhất, Rezso đã viết một lá thư gửi cho người yêu cũ của chàng và xin thêm một cơ hội nữa để nối lại mối duyên xưa. Ngày hôm sau, người ta tìm thấy thi hài của cô gái trẻ đã chết vì uống thuốc quá liều lượng. Bên cạnh cô ta là một tờ giấy với nét chữ nghệch ngoạc trên ấy nhưng còn có thể đọc được. Đó là tên của bài nhạc "Gloomy Sunday". Sau này, chính người nhạc sĩ Rezso Seress cũng tự tử vào năm 1968. Rezso Seress nhảy lầu tự tử mà không để lại một lời di chúc nào cả. Người ta suy đoán rằng Reszo Seress tự tử vì tuyệt vọng bởi ông đã không thể sáng tác thêm được một tác phẩm hay “chết người” để đời nào khác như “Gloomy Sunday”!

Cơn sốt Chủ Nhật Buồn lên đến đỉnh điểm vào năm 1936. Bất chấp lệnh cấm, các bản nhạc in rời được bày bán khắp nơi trên đường phố Paris. Những lời đồn đại làm cho nhiều ban nhạc và ca sĩ không dám trình diễn bài hát "chết chóc" này.

Nhạc sĩ Seress sau đó đã cố gắng thu hồi bài hát của mình nhưng không thành công. Đến lúc này thì Rezso chẳng còn nghi ngờ gì về bài nhạc định mệnh mang đầy tính nguyền rủa của chính mình. Lần đầu tiên trong đời, Rezso cố gắng thu hồi lại bài nhạc để nó khỏi bị lan ra nhiều thêm. Nhưng tất cả mọi nỗ lực của anh đều không thành. Bài hát càng bị cấm, nó lại càng trở nên phổ biến hơn. Những bản copy lậu được bày bán trên đường phố như một loại trái cấm.

Trong mỗi quốc gia, số người chết lại càng gia tăng. Bài hát đã đem lại nhiều lời đồn đại chết người đến nỗi các nhạc sĩ không dám đàn bài ấy hay thậm chí các ca sĩ cũng sợ không dám hát.

Đệ Nhị Thế Chiến xảy ra, người ta cũng bắt đầu quên dần bài hát ấy. Cơn sốt Chủ Nhật Buồn đã lắng dịu. Vào thời điểm này, Đài BBC quyết định nới lỏng lệnh cấm bài hát và cho phát thanh lại "Gloomy Sunday" trên làn sóng điện nhưng bấy giờ bài nhạc chỉ còn là một hợp tấu khúc (orchestral piece). Từ ấy bài hát được sửa lại theo lối hoà âm hợp khúc này.

Chuyện kể rằng có một người cảnh sát đi tuần ngang qua một căn chung cư nhỏ và cứ phải nghe mãi tấu khúc Chủ Nhật Buồn phiên bản mới này được phát ra lập đi lập lại liên tục hàng giờ. Tiếng nhạc phát ra từ cửa sổ của một căn chung cư trên con phố mà người cảnh sát tuần tiễu. Tò mò muốn biết ai đó lại có thể nghe mãi một bài hát lập đi lập lại mãi thật nhiều lần không ngừng nghỉ, người cảnh sát cuối cùng quyết định điều tra.

Khi bước vào căn nhà, viên cảnh sát  thấy "Gloomy Sunday" đang được hát trên dàn máy hát xoay tròn tự động. Thân thể của một thiếu phụ đang nằm cạnh chiếc bàn nơi để chiếc máy hát đang chạy.Người thiếu phụ đã chết với một liều thuốc ngủ cực mạnh. Đây mới chỉ là một bắt đầu của hàng loạt cuộc tự tử khác nối tiếp. Một lần nữa, BBC phải ra cấm lệnh đối với bài hát.

Theo tổng kết, có hơn một trăm vụ tự tử tại "Gloomy Sunday". Tuy không còn ma lực gây tự tử nữa nhưng bài hát vẫn được giới ca sĩ khắp nơi thích hát.

Giải thích hiện tượng

Các nhà nghiên cứu cho biết âm nhạc, điện ảnh, trò chơi... có thể tác động đến tâm lý của con người, nhưng không phải là quyết định. Thời kỳ đó, Mỹ và châu Âu đang trong giai đoạn phát triển công nghiệp. Bối cảnh xã hội bị khủng hoảng kinh tế sau Đệ nhất thế chiến, nạn thất nghiệp gia tăng, hậu quả của chiến tranh gây ra sự chết chóc, thương vong... Sự khủng hoảng xã hội sâu rộng này được thể hiện rõ nét với sự lên ngôi của học thuyết hiện sinh. Điều này tác động mạnh lên tâm lý của dân chúng và đẩy nhiều người trong số họ rơi vào trạng thái mất phương hướng, trầm cảm, thất vọng trong cuộc sống.

Trong bối cảnh đó chỉ cần thêm một tác động nhỏ từ bên ngoài như âm nhạc, phim ảnh... có nội dung buồn thảm là có thể đẩy họ đến một quyết định tiêu cực.

 Bài hát rất ảm đạm này chính là "giọt nước làm tràn ly". Thêm nữa là sự cộng hưởng thêu dệt của dư luận đã tạo nên cái "mốt tự tử" vào thời kỳ đó.

 Các nhà tâm lý học cho rằng hiện tượng tự tử thời kỳ đó là do bối cảnh xã hội khủng hoảng tác động mạnh lên tâm lý con người và bản thân bài hát này, cũng như cái chết của tác giả chỉ là một biểu hiện bề mặt của cuộc khủng hoảng đó.

Thật ra, theo như sự phân tích của Trang web Snopes (chuyên điều tra tìm hiểu để hóa giải các tin thất thiệt hoặc đáng nghi ngờ) thì số lượng các vụ tự tử vì ảnh hưởng của bản nhạc này bị thổi phồng và bản nhạc này không hề bị cấm ở Hoa Kỳ. Mọi dữ kiện liên quan đến bản nhạc này có thể không hoàn toàn chính xác hoặc sai lạc.

Dĩ nhiên trong thời buổi bây giờ khi nghe tấu khúc Gloomy Sunday của Rezso Seres trỗi lên hay nghe Nguyễn Hồng Nhung hát bài Chủ Nhật Buồn, cho dù trong một ngày Chủ Nhật thật sự ảm đạm như ngày hôm nay chăng nữa, chẳng còn ai bị tiếng nhạc lời ca đó ám vận vào người đến nỗi phải tự tử nữa. Trùm chăn ngủ sướng hơn.

Nguồn tham khảo:

 http://en.wikipedia.org/wiki/Gloomy_Sunday

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_nh%E1%BA%ADt_bu%E1%BB%93n

 http://www.mentalfloss.com/blogs/archives/97270

http://www.qsl.net/w5www/gloomy.html

http://www.snopes.com/music/songs/gloomy.asp

 

Từ cháu lên ông (Tùy bút)


Từ cháu lên ông

Cuộc đời qua nhanh như câu chuyện Ống Chỉ Thần, sợi chỉ thời gian qua rồi không quấn lại được. Nhớ mới hồi nào tôi còn là thằng bé nhà quê luôn luôn sẵn sàng khoanh tay cúi đầu thưa gởi mỗi khi chạm mặt ông bà. Bây giờ mon men tuổi bảy chục, tôi đã là ông của một đám cháu, vừa cháu nội lẫn cháu ngoại. Đứa lớn nhất mới mừng sinh nhật 17 tuổi. Tôi nói “Mười bảy bẻ gãy sừng trâu”, nó chẳng hiểu, hỏi tại sao. Đứa cháu nhỏ nhất cũng đã bắt đầu đi học và biết mắc cỡ với bạn gái, tôi khỏi cần hỏi, nó cũng biết tại sao rồi. Cháu tôi bây giờ không khờ như ông nó hơn 60 năm về trước. Khờ một phần cũng vì bị ông nội ông ngoại tôi đối xử nghiêm khắc nên tôi đâm ra nhút nhát.

Để tôi nhớ lại cái coi nào. Ông nội tôi rất xa cách với con cháu. Nói chung, dường như ông chẳng hề biểu lộ tình thương với đám nhóc. Tuy tôi là cháu đích tôn của ông, ông cũng chẳng dành cho tôi chút ưu tiên nào. Lúc bấy giờ mới năm hay sáu tuổi, tôi không thắc mắc tìm hiểu. Khi lớn khôn hơn, tôi hiểu ra. Ông nội tôi buồn rầu vì thảm cảnh gia đình, tuyệt vọng, tự cô lập và tự hủy diệt bằng men rượu. Để tôi kể cho nghe.

Vào một ngày cuối năm 1945, Má tôi dắt tôi, đứa con đầu lòng mới hai tuổi, về thăm cha mẹ ở ấp Bình Hạnh xã Long Bình Điền quận Chợ Gạo, quê ngoại tôi. Nào ngờ trong thời gian đó, quê nội Bình Phan, Chợ Gạo ngập tràn trong khói lửa chiến tranh. Hai làng chỉ cách nhau chừng năm cây số và một con sông. Quân đội Việt Pháp hành quân càn quét vùng có du kích Việt Minh hoạt động khuấy phá. Hậu quả là một số nhà bị cháy và hàng mấy chục dân làng vô tội bị chết oan giữa hai lằn đạn. Chỉ riêng nhà ông nội tôi có bảy người chết tất cả gồm ông bà cố, bà nội, em bà nội và ba người cô còn nhỏ tuổi. Họ chính là cha mẹ, vợ, em vợ và ba đứa con gái còn nhỏ dại của ông nội tôi.

Nhìn sản nghiệp tiêu tan, bảy người thân chết chôn không hòm mà chỉ quấn chiếu manh, ông nội tôi sống như cái xác không hồn. Bốn năm sau, hòa bình tạm trở về, ông tôi vẫn không nguôi buồn, luôn sống trong nỗi u uất đắng cay. Tiếng cười đùa của trẻ thơ không giúp ông khuây khỏa mà chỉ khiến ông khó chịu. Chúng tôi nhận sự la rầy gay gắt thay vì lời dịu ngọt thương yêu.

Năm 1950, cha tôi đón gia đình lên Sài Gòn sinh sống trong khu nhà sàn ở Bàn Cờ. Đối với Sài Gòn, tôi cũng là dân di cư đó chớ. Trời mưa nước dâng lên gần sát sàn nhà. Gió lay sóng nước hất đám rêu lên hàng ba. Sáng một ngày thức dậy, tôi khoái chí mừng rỡ bắt gặp một con rùa nhỏ bò vô nhà. Có mấy món đồ chơi, tôi lấy ra xếp thành vòng cho con rùa bò ở giữa. Đám nhóc chúng tôi say mê đùa giỡn gây náo động ồn ào. Ông nội tôi từ trong nhà bước ra, nét mặt hầm hầm, lớn tiếng la mắng một chập xong vung chân đá tất cả đồ chơi và cả con rùa xuống nước. Con rùa thì bơi đi; chiếc xe Huê Kỳ bằng sắt mới của tôi thì trở thành tàu lặn chìm nghĩm. Ba năm sau (1953), ông nội tôi lâm bệnh nặng và qua đời khi chưa đầy 60 tuổi, xong một kiếp người và một cuộc đời nhiều đau khổ.

Trước khi di cư lên Sài Gòn, tôi cũng được sống nơi vườn tượt quê ngoại mấy năm, tha hồ ăn trái cây, vậy mà bịnh thì cứ bịnh. Tôi đã là một đứa  khẳng khiu ốm yếu hay đau vặt từ nhỏ. Bịnh nhức đầu ói mửa đeo đẳng suốt đời tôi, xảy ra bất cứ lúc nào. Một lần tôi bịnh ngay trong mấy ngày Tết ở quê ngoại. Tôi nằm bẹp trong buồng trong khi các anh chị họ của tôi đang vui Tết. Bà ngoại khuấy bột mì tinh nấu với đường phèn rồi đút từng muỗng cho tôi ăn và xức dầu lên trán tôi. Bà nói “Con giỏi ăn cho hết bịnh đi. Bà ngoại có cất tiền lì xì cho con rồi, đừng lo. Ông ngoại con cũng có để dành phần kẹo sô-cô-la cho con nữa.”

So với ông nội, ông ngoại tôi hiền từ hơn, dễ chịu hơn và gần gũi với con cháu hơn. Ông sai cháu làm vài công chuyện lặt vặt như đấm lưng, bóp chân, đưa võng, xong ông thưởng kẹp đậu phọng, kẹo bạc hà. Tôi thích được ông sai ra vườn hái trái cây ngon để cúng để sẵn dịp tôi bỏ bụng lai rai vài trái mận, ổi, quít. Mãng cầu, xoài, bưởi bự trái quá, tôi khó lòng thanh toán một mình ngoài vườn nên chỉ còn cách chờ lịnh ông ngoại hạ mâm trái cây cúng xong từ bàn thờ xuống để hưởng xái của ông bà. Có lúc đi ngang qua bàn thờ thơm mùi trái cây chín, tôi lên tiếng nhắc “Trái cây trên bàn thờ chín quá rồi ngoại ơi”, để rồi thất vọng nghe ông đáp “Chín kệ nó! Còn cúng!” Tôi đâu có biết ông chỉ ăn trái cây chín mềm vì một mớ răng ông đã rụng mất rồi. Tôi thì chỉ thích trái cây còn tươi giòn nhai rôm rốp mới đã.

Ông ngoại còn để tóc búi và hay nói chữ nho. Một lần trời mưa đến lúc gần tạnh, hai ông cháu đứng trước hiên nhà nhìn từng hạt mưa từ mái nhà lợp lá rơi xuống nền đất đọng nước nghe tí tách, từng giọt từng giọt trước sau rơi đúng cùng một điểm không suy suyển. Ông nói “Điểm điểm đích đích bất suy vi”. Do cách phát âm miền Nam của ông, tôi nghĩ thầm “Sao ông ngoại nói cái gì có đít ở trỏng cà?”

Ông còn hay nói “Dưỡng nam bất giáo như dưỡng lư. Dưỡng nữ bất giáo như dưỡng trư”. Nuôi con trai mà không dạy thì cũng như nuôi con lừa. Nuôi con gái mà không dạy thì cũng như nuôi con heo. Dạy dỗ ông muốn nói ở đây là dạy lễ nghĩa và cách cư xử ở đời. Tuy ông ngoại không giỏi chữ quốc ngữ nhưng với một cái bàn tính bằng gỗ mun, ông rất thành thạo với những con số và những bài toán. Những ngón tay để móng dài của ông búng các hạt của bàn tính cứ thoăn thắt thật rành nghề. Vào buổi tối ông hay bắt các cháu đọc cửu chương. Thật uổng công ông, toán là môn học dở nhất của tôi.

Ông ngoại tôi rất ưa quà bánh kẹo Pháp do Ba tôi biếu tặng mỗi khi từ Sài Gòn về thăm nhà. Khi tôi đã rời quê di cư lên Sài Gòn được vài năm và đã khá rành đường sá, mỗi lần ông ngoại từ quê lên chơi, tôi được dịp làm hướng dẫn viên dắt ông ngoại dạo phố phường, tha hồ đía với ông về những gì tôi biết về chốn kinh thành hoa lệ. Ông thích ăn fromage La Vache Qui Rit và chocolat Nestlé, tôi bèn dẫn ông ra tiệm Chà ở đường Catinat cho ông tha hồ lựa mua bánh kẹo Pháp. Không lâu sau, ông ngoại tôi cũng mất vì bệnh khi tôi vừa lên đường nhập ngũ khoác áo lính. Ông chưa kịp nhìn thấy thằng cháu ngoại thân hình gầy gò ốm yếu chỉ cân nặng 42 kí-lô của ông trong bộ đồ trận xộc xệnh vác cây súng trường Garant M1 trong quân trường hát bài Lục Quân Việt Nam Hành Khúc “Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn…”

Đường trường xa nhưng thời gian qua mau như bóng câu qua cửa sổ, thoắt một cái thật nhanh. Các ông bà và tứ thân phụ mẫu đều đã qua đời. Ngày xưa tôi là cháu, bây giờ tôi đã làm ông. Nhưng trong “ông” dường như chất “cháu” thơ ngây hay đùa hay nghịch vẫn còn. Tôi vẫn nhớ những ngày làm cháu, đầu năm xênh xang áo mới mừng tuổi ông bà rồi cha mẹ. Bây giờ mỗi lần tình cờ nghe bài nhạc Mừng Tuổi Mẹ của nhạc sĩ Trần Long Ẩn, tôi lại nghe tim mình rưng rức. Để cho phù hợp với trường hợp của tôi, câu “Mỗi mùa xuân sang… ngày tôi xa Mẹ càng gần” của bài nhạc được tôi hiểu ngược là mỗi tuổi đời qua, ngày tôi về với ông bà càng gần.

Biết thời gian sống chung với con cháu một ngày kia sẽ chấm dứt và tiếc nhớ ngày tháng làm cháu, tôi sống gần gũi với các cháu hơn. Một lần khi được nghe đứa cháu bảo “ông nội là bạn con”, tôi mĩm cười sung sướng. Trong những dịp họp mặt gia đình đông đủ, tôi thường tham dự các trò chơi như đố chữ, Sudoku, Monopoly, Dominoes… với cháu. Thắng được tôi, chúng nó khoái lắm. Thua chúng nó, tôi cũng vui vì được chúng xem như bạn. Tôi muốn sự thân mật ông cháu bây giờ đền bù lại những tình cảm tôi thiếu thốn thuở xưa.

Tôi may mắn có đứa cháu nội ở chung nhà. Trong cái rủi có cái may. Cha mẹ nó sau mấy năm chung sống mới khám phá ra không hợp tánh tình nên hát bài “Thôi nhé mình chia tay” và lập gia đình khác. Cháu tôi không muốn sống với cha mẹ ghẻ nên chọn sống với ông bà. Con nhỏ coi vậy mà khôn. Ông bà đã về hưu nên có thì giờ chiều chuộng cưng lo cho nó như cục vàng. Một mình nó đã sắm hai cây đàn guitar thùng, một guitar điện có ampli, và một cây keyboard. Những hôm cháu đi học về hơi trễ, ông bà ngong ngóng lo, nhìn ra đường trông chờ từng chuyến streetcar ngừng nơi trạm xem cháu có xuống chuyến này không.

Mấy hôm bị cúm hành nằm rệu rạo nơi ghế nệm ở phòng khách, tôi nghĩ dù sao đời mình cũng sắp qua, chỉ thương cho cháu với đường đời trước mặt còn dài, biết có được bằng phẳng không, nhất là với cái tính tơ lơ mơ, không lanh lợi của nó. Hôm nào cháu đi học về biết lên tiếng hỏi “Ông nội bữa nay bớt bịnh chưa” là hôm đó ông nội cảm động rưng rưng thương cho cháu, biết ngày sau đời nó sẽ ra sao. Lần cảm động nhất là dịp lễ tưởng niệm 30 Tháng Tư hai năm trước đây, cháu đã lên sân khấu đàn và hát một bản nhạc do cháu sáng tác nói về người ông phải xa quê hương để lánh nạn cộng sản.


Cháu nội giống tôi nhiều thứ, chẳng biết như vậy là tốt hay xấu nữa. Nó thích viết lách văn chương, thích vẽ, thích đàn ca… mọi món đều hơn ông nội. Một người là mầm non đầy triển vọng và một người mờ dần trong bóng chiều. Có người đồng điệu sở thích trong nhà để san sẻ chuyện trò cũng vui. Trong bữa cơm chiều, ông cháu hay kể chuyện nhắng nhít rồi cười lên hô hố. Cháu hay kể vài mẫu chuyện xảy ra trong lớp học, một chuyện tiếu lâm; ông thì hay đem những cái ngô nghê của chính mình và của thiên hạ ra đùa. Chẳng hạn như khi nghe chương trình phát thanh dạy nấu món ăn Việt nhắc đến con mẻ (là một thứ gia vị làm bằng cơm nguội ủ kín cho lên men ngấu chua dùng để nấu bún riêu hay giả cầy), cháu hỏi con mẻ là con gì, ông phang luôn: “Con mẻ là vợ của thằng chả!” Vợ tôi vốn không đồng ý việc hai ông cháu cười nói trong bữa ăn, nghe tôi phang nhắng cũng phải cười.

Cháu không nuôi mộng giàu sang phú quý, không coi trọng đời sống vật chất vì cháu có máu tơ lơ mơ giống ông. Cháu cũng biết nói ăn để mà sống chớ không phải sống để mà ăn. Cháu sống bình dị và không ganh đua với người khác nên học hành cho xong bổn phận chứ không cố đứng đầu lớp. Cháu đang học năm cuối bậc trung học, năm tới lên đại học biết nó còn ở với ông bà không. Ông bà thì ngày một già thêm, càng sợ cô độc hơn và càng cần sự có mặt của con cháu hơn. Nhưng cháu có toàn quyền quyết định cuộc đời và tương lai của cháu. Ngày xưa tôi cũng như con chim vừa đủ lông đủ cánh đã tung bay xa gia đình và lo chạy theo cuộc sống riêng cho bản thân. Bây giờ con cháu làm y như vậy cũng là chuyện dĩ nhiên thôi.

Dịp lễ Giáng Sinh vừa qua, chúng tôi gom về Dallas họp mặt gia đình đủ mặt cặp vợ chồng già, ba người con và sáu đứa cháu. Nhìn chúng quây quần vui đùa với nhau là niềm vui của người ông. Chúng nó biết cách đối xử, ngoan ngoãn và ăn nói lễ phép. Tre già măng mọc, người ông chỉ mong cho các cháu khi lớn lên sẽ có một đời sống an lành sung sướng hơn ông của chúng, cũng như tôi cảm thấy đời mình may mắn hơn đời ông tôi ngày xưa.

HCA.

 

 

 

Con chuột nhắt! (Bút ký)


Con chuột nhắt!

Chiều hôm kia, đến giờ làm cơm, H2 đi vào bếp, bỗng nghe có tiếng sột soạt trong ống thoát khói bên trên mặt bếp lò. Một con chuột nhắt nhỏ xíu xinh xinh len miếng lưới chắn lỗ thoát khói phóng xuống. H2 hốt hoảng hét lên. ML nhanh nhẩu rời bàn phím chạy vào vì tò mò. H1 đang ngồi nghỉ ở ghế sofa cũng dò dẫm đi vào.

Con chuột bé tí teo nhưng vô cùng nhanh nhẹn chạy lung tung trong gian phòng nhà bếp. ML thích thú vì lần đầu tiên được nhìn thấy con chuột xinh quá. Ba người lăng xăng chẳng biết tìm cách nào để bắt sống nó vì không muốn giết nó chết. Thế rồi nó biến mất một cách tài tình giữa sự ngơ ngác của ba con người. Lui cui lom khom dưới gầm bàn, rọi đèn pin trong các ngỏ ngách tìm khắp bếpcũng chẳng thấy nó đâu, mọi người đều băn khoăn, hoang mang lo lắng, vẽ vời ra những cảnh tượng như chuyện phim giả tưởng.

H1 mệt óc lẫn mệt xác, chỉ ăn một quả táo thay cho bữa ăn chiều, xong đi nằm ngủ sớm. ML trở lại máy tính để vào Google tìm giải pháp bắt chuột. H2 lo dọn dẹp hết tất cả thức ăn để bên ngoài, cứ nghĩ như con chuột có ba đầu sáu tay. Bánh mì ổ, bagels, panettone trong bao plastic, các hộp cereals, rổ đựng trái cây chuối, lựu, bơ.... tất cả đều được H2 giấu kín.

Do ngủ sớm nên sáng H1 dậy sớm, xuống bếp thì nhìn thấy một công trình kiến trúc lạ lùng ngay giữa bếp. Đêm qua ML thức trễ để xây dựng một bẫy chuột nhân đạo, sau khi đã tham khảo nhiều nguồn tài liệu trên Net. Bẫy là một cái thùng rác bếp trống không có lót bao ni lông, bên trên có nắp bằng carton, giữa nắp có khoét lỗ và có trét cheese. Từ sàn bếp lên nắp thùng là cái ramp như ramp vào xa lộ, có chân chống và tất cả được dán tape chắc hẳn hoi.

H1 lắc đầu ngao ngán tội nghiệp cho bà vợ và đứa cháu nội vì không muốn phạm tội sát sanh, ngăn cản lời đề nghị thiết thực của H1 là dùng bẫy sập giết chuột. Hai người phụ nữ vì thương loài vật mà khổ nhọc công lao. Con chuột con nít kia coi vậy chớ không dễ dàng bị dụ. Nó vẫn biệt tăm hơi. H1 đói bụng đi tìm thức ăn, mở tủ lạnh, các closets mà vẫn không tìm thấy đủ các món. Đến chừng H2 thức dậy từ trên phòng ngủ đi xuống, trên tay bưng một lô trái cây!

Tưởng đâu một ngày nữa sắp qua không biến cố do con chuột gây ra, nào ngờ... Lại buổi chiều chớm đông trời âm u lành lạnh, H2 mở cửa sliding door từ phòng bếp bước ra hành lang để nhìn xuống đường xem xe rác thành phố đã lấy rác chưa. Đến khi trở vào đóng cửa lại, H2 thấy sao mà cánh cửa không thể đóng sát và như là vướng víu vật gì. Quan sát kỹ, H2 thấy đó là xác con chuột bị dập nát máu me. Lại một tiếng hét, lại ba người hốt hoảng, lại căng thẳng như phim kinh dị, lại đau đớn và khiếp sợ.

H1 lại mệt muốn bịnh nhưng phải tìm cách lấy ra xác con chuột bị kẹt trong một khe hở nhỏ hẹp và lau vết máu, trong khi H2 không còn lòng dạ nào ăn bữa cơm chiều. Trong khi đó, TV dồn dập phát hình và tường thuật vụ thảm sát xảy ra ở trường tiểu học Sandy Hook ở Newtown Connecticut cho thấy cái chết bất chợt xảy ra một cách vô lý cho 20 em học sinh tiểu học. Sửng sốt quá. Đáng buồn quá.

ML thì đã bị đau cổ từ sáng, nghỉ học ngày Thứ Sáu, nằm đến trưa mới dậy và cả ngày chỉ ăn súp. Bình thường ML thức khuya nhưng hôm nay lên phòng ngủ sớm và đóng cửa lại. Thương thay cho kiếp sống mong manh của tạo vật, dù đó là người hay chuột. Buồn.



 

Về Với Ông Bà


Về Với Ông Bà

Người ta hay nói ví von chết là Về với Ông Bà. Về với Ông Bà tôi không sợ bằng sợ vừa nhức đầu như búa bổ vừa ói mửa đến mật xanh mật vàng, tiếp đến là mệt muốn đứt hơi. Cái màn tra tấn này dã man quá chịu không thấu, thà chết sướng hơn.

Người ta sống được đơn giản là nhờ ăn với ngủ, vậy mà tôi không thể trong mấy tuần lễ liền. Ăn thì tôi chỉ ăn súp rau cải là chính vì phải kiêng cử các chất béo, mặn, ngọt. Ngủ thì tôi chỉ ngủ được những giấc ngắn bất kể ngày đêm và nhiều mộng mị, phần nhiều là mộng xấu chớ không hẳn là ác mộng. Những lúc thức thì tôi mệt mỏi nghĩ ngợi tơ lơ mơ chán đời.

Mấy hôm trước đây, tôi có hai giấc mộng một lúc trong cùng một đêm. Tôi xin kể các bạn nghe.

Mộng 1:

Tôi thấy tôi đi dự một đám giỗ. Cảnh giới là một ngôi nhà rộnglớn kiểu xưa với trần nhà cao, cột gỗ sơn bóng, nền gạch tàu, bàn thờ, bàn khách dài. Mọi người có mặt ở đó đều là các cụ mặc áo the khăn đống sinh hoạt nhộn nhịp vui tươi. Tôi được gọi đến ngồi cùng bàn với các cụ mà tôi đã quen biết trong nhiều năm ở Toronto và đã quy tiên nhưcụ Bùi Văn Bảo, cụ Trần Ngọc Tỷ, cụ Cung Cảnh Phúc, cụ Nguyễn Đức Thái, cụ Mai Quí Lịch. Các cụ niềm nở hỏi chuyện và chăm chú nghe tôi trả lời. Điều lạ là các cụ hỏi tôi năm nay bao nhiêu tuổi. Tôi đáp “Dạ, cháu tuổi Quý Mùi, tính theo tuổi ta thì vừa tròn bảy chục”. Một cụ bảo “Giời, anh còn trẻ chán”.

Bỗng tôi nghe từ sau lưng tôi có tiếng một cụ bà gọi “Ông Hoàng đấy hở? Lâu quá mới lại thấy ông đến chơi. Bà nhà và các cháu khỏe cả chứ?” Tôi vừa kịp đứng dậy và quay đầu lại định chào thì ai đó đã nhét vào miệng tôi một miếng xôi gấc. Tôi tỉnh mộng và nhận ra trong miệng mình toàn nước bọt. Đang nằm trên giường và lười dậy đi vào phòng tắm để nhổ và nghĩ đến miếng xôi gấc trong mộng, tôi nuốt luôn cho xong. Tôi nghe nói một trong những bí quyết giúp vua Càn Long sống khoẻ mạnh đến 89 tuổi là nhờ nuốt nước bọt.

Liếc nhìn đồng hồ ở đầu giường, tôi thấy mới hơn một giờ sáng. Tôi nằm nghĩ ngợi cố giải mộng. Tại sao có giấc mộng này? Giấc mộng nhằm thông điệp gì? Cảnh giới rõ ràng là cảnh giới mang màu sắc Việt Nam nhưng tôi chưa từng thấy bao giờ. Các nhân vật trong mộng thì tôi chỉ bắt đầu quen biết từ khi đến Toronto qua các năm cùng sinh hoạt ở Niệm PhậtĐường Chân Như và nhất là do tôi thường xuyên đến chơi nhà một người bạn là anh Bùi Bảo Sơn. Tôi nghĩ có lẽ do qua nhiều năm thường xuyên đến nhà bạn dự giỗ các cụ. Kể từ năm nay do đôi chân yếu, tôi ít rời khỏi nhà, hầu như bỏ hết mọi cuộc gặp gỡ đông người. Tôi không còn đến nhà bạn tôi dự các buổi cúng giỗ nữa. Nhưng tôi vẫn nhớ các cụ đều toàn là những nhân cách đáng kính trọng. Dù thuộc hàng con cháu, tôi vẫn được các cụ đối xử bình đẳng như kẻ ngang hàng, lịch sự nhã nhặn khiêm cung.

Không ngủ lại được, tôi nằm nhắm mắt trong bóng đêm lăn trở mãi và liên miên nghĩ ngợi về những kỷ niệm ngày tháng cũ. Hơn hai giờ sau, tôi ngủ lại và lại nằm mộng.

Mộng 2:

Lần này tôi thấy tôi về thăm cha mẹ nơi căn nhà C11 trong Cư Xá Vĩnh Hội Quận 4 Sài Gòn. Tôi thấy Ba Má tôi còn sống đón mừng tôi, mặc dầu sự thật họ đã qua đời ở quê nhà. Má tôi mất mới mấy năm. Ba tôi mất đã hai mươi năm. Lạ quá, rõ ràng tôi thấy hình Ba Má tôi trên bàn thờ nơi phòng khách trong khi hai người vẫn đứng bên tôi như gần bốn mươi năm về trước khi tôi từ giã họ ra đi biền biệt không một lần về lại. Tôi hoang mang khi nhận ra mình cũng đã già bằng như cha mẹ nhưng do thói quen từ nhỏ, tôi vẫn cung kính khoanh tay và cúi đầu nói lí nhí “Dạ thưa Ba Má, con mới về”. Một đứa cháu, con của em trai tôi, từ trong bước ra mừng “Bác Hai mới dìa hả? Bác Hai gái có dìa hôn?” Thế rồi thêm mấy đứa cháu nữa vừa người lớn vừa trẻ con lạ mặt túa ra “thưa bác, thưa ông” lao xao mà tôi chẳng biết ai là ai. Ba Má tôi đã biến đâu mất. Tôi đứng sững sờ nhìn ảnh cha mẹ, xong tôi nhìn thấy tàn tro từ ba cây nhang đang cháy rơi xuống trên da con gà luộc còn nguyên cả đầu như rắc muối tiêu. Tôi giật mình tỉnh giấc, lại cũng cảm thấy trong miệng đầy nước miếng và lại nuốt như vua Càn Long.

Tôi lại nhìn đồng hồ. Chưa đến bốn giờ sáng theo giờ mới vặn lui lại một giờ hôm tuần rồi. Tôi lại nằm đó nghĩ đến cảnh thực và mộng cứ lẫn lộn hòa trộn với nhau. Tôi cảm thấy đầu nằng nặng và đâm hoảng sợ. Mắt vẫn nhắm nghiền, tôi quơ tay bên gối lấy lọ dầu nóng Ultra Balm của một người bạn đã tặng cho tôi tháng trước. Tôi mở nắp lọ dầu, dùng ngón tay quẹt một ít dầu và thoa vội hai bên thái dương, nghe mắt cay cay. Tôi tự vỗ về, “Nhớ giỏi nha, đừng để bịnh nặng lại”.

Giá như lúc khỏe mạnh bình thường, tôi đã ngồi dậy nhè nhẹ vịn cầu thang để xuống hang ngồi tới sáng là ghi lại xong hai giấc mộng vì nếu để lâu tôi biết tôi sẽ quên như nhiều lần khác. Có khi tôi quên ngay mình vừa mộng thấy gì khi vừa tỉnh dậy. Lần này, vốn chưa khỏe hẳn và không thể ngồi viết lâu, phải mất hơn hai hôm và nhiều lần ngưng nghỉ tôi mới gõ xong bài ngắn này.

Tôi vẫn biết đời là vô thường, già thì phải chết, buồn lo cũng chẳng ích chi. Bạn bè khuyên thay vì nằm lo nghĩ vẩn vơ vô ích thì tôi nên nghe và tụng Chú Đại Bi. Nhưng tôi lại là đứa hay đùa giỡn nhắng nhít nên có khi đọc đến các câu chữ “tát bà tát đa, na ma bà già…,hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra…”, tôi lại cười. Đúng là tôi không có duyên tu, nghiệp chướng nặng nề và đầy tội lỗi.

Qua hai giấc mộng vừa rồi, tôi nghĩ về với ông bà cũng không đến nỗi nào. Được gần gũi với cha mẹ ông bà, với những bậc trưởng thượng, tôi được làm người trẻ hơn, được xưng con, xưng cháu, được cưng chiều. Về với ông bà để được ăn xôi gấc và gà luộc cũng sướng.

“Mai sau về với ông bà
Ăn chuối cả nải, ngắm gà khỏa thân.”
(Thơ tếu lượm trên Net)

 
Tôi xin sửa lại là
Mai sau về với ông bà
Ăn xôi gấc nếp với gà xé phay.

 
11/2012.