Sunday, 9 February 2014

Mùa thu đi nhặt bạch quả


Mùa thu đi nhặt bạch quả
 

Phan Hạnh.

 

 


 

Này bạn già ơi, sáng nay bạn có nhớ uống thuốc bổ chưa? Hay là bạn quên? Hầu hết những người già chúng ta bị bệnh lãng trí; chính vì vậy mà có một câu nói đùa mới trở nên thịnh hành ngày nay:"Bộ sáng nay bạn quên uống bạch quả rồi hả?"

 

Theo kết quả của nhiều cuộc nghiên cứu, bạch quả (Ginkgo biloba) có khả năng tuyệt vời để kích thích trí nhớ, là một món thuốc hỗ trợ đáng tin cậy giúp làm giảm bệnh quên nhẹ. Bạch quả cũng được ca ngợi cho vai trò trong việc giúp đỡ các trường hợp của bệnh Alzheimer trung bình. Trong khi bệnh quên nhẹ thường là một phần của quá trình lão hóa tự nhiên, các triệu chứng sớm phát hiện của bệnh Alzheimer là quên nặng, suy giảm khả năng nhận thức, khảo sát và lý luận. Những thay đổi cơ bản bộ não có thể xảy ra sớm nhất là 10 năm trước khi được chẩn đoán và thường xảy ra ở người trên 60 tuổi. Mặc dù yếu tố di truyền đóng một vai trò quan trọng trong nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer, các nhà nghiên cứu đồng ý rằng lối sống tốt có thể giúp giữ cho bộ não của bạn khỏe mạnh. Tôi lo tìm hạt bạch quả để nấu chè ăn đây vì tôi hay quên quá.

 

Ở Canada, mùa thu hoạch nông phẩm hàng năm được đánh dấu bằng Lễ Tạ Ơn hay còn được gọi là lễ hội ngày mùa, rơi vào ngày Thứ Hai thứ nhì của Tháng Mười. Là một người có gốc gác miệt vườn Tiền Giang, tuy không hề làm nghề trồng trọt chăn nuôi nơi ruộng vườn nông trại, nhưng tôi rất thích thú vui đi hái rau quả, nhất là hái táo vì đỡ phải khom lưng lúi cúi như hái dâu tây hoặc hái đậu hái cà.

 

Năm nay tôi đi hái táo ở vườn táo Orchalaw Farms, số 9726 Heritage Road, Brampton tất cả là ba lần, hái hơn 40 cân Anh táo, vừa để ăn vừa làm quà tặng. Orchalaw Farms và các vườn táo cho khách hàng vào tự hái ở Ontario hầu hết đều đóng cửa vào cuối Tháng Mười. Tôi buồn năm phút, chỉ năm phút thôi là tôi vui lại vì tôi có thứ khác để thu hoạch: bạch quả!

 

Bạn có đi hái hay đi nhặt bạch quả bao giờ chưa? Vui lắm bạn ạ. Bạn hỏi đi nhặt trái bạch quả ở đâu? Xin thưa là ở ngay trong trung tâm thành phố Toronto, những nơi như Queen’s Park, Moss Park, Allan Gardens, Edwards Gardens, khuôn viên Trường Đại Học Toronto, Trinity Bellwoods Park, Toronto Island Park, High Park, nghĩa trang Mount Pleasant. Tôi không biết chính xác ở Toronto có tổng cộng bao nhiêu cây bạch quả “cái” nhưng cũng đủ nhiều để bạn đi lượm quả. Tài liệu cho biết chỉ có khoảng 25% số cây bạch quả ở Toronto là cây “cái” tức cây có quả; ba phần tư số cây bạch quả còn lại là cây “đực”, trụi lủi không có trái, chỉ có phấn bông làm cho bạn dị ứng sổ mũi mà thôi.

 

Ở thành phố Montreal, bạn có thể tìm thấy cây bạch quả tại các địa điểm: Viện bảo tàng Beaux-Art Museum đường Sherbrooke, công viên Joyce Outremont, vườn Bách Thảo, đường Saint Catherine, trường cao đẳng Notre-Dame, Parc La Fontaine, trường trung học Sophie-barat, cao ốc Londen Life 1245 Sherbrook street, trường đại học Concordia, gần tượng Bethune trên đường Maisonneuve Blvd. (north side), near Bethune's statue, Murray Hill Park, Westmount, St. Joseph's Oratory, nghĩa trang Mount Royal, v.v. Thành phố Ottawa cũng có cây bạch quả trồng ở gần đài tưởng niệm Việt Nam góc Preston street/Somerset street, Ottawa Experimental Farm, Russell Boyd Park, Pretoria Bridge, Tòa Đại Sứ Đức, v.v.

 

Tuy không có nhiều cây bạch quả cái có trái ở Toronto nhưng bạn khỏi lo, nếu bạn đi tìm thì thế nào cũng thấy quả rụng để nhặt, lý do là chỉ có dân Á Đông như Tàu, Việt mới chịu khó nhặt, còn người thuộc các sắc dân khác hoặc không biết giá trị bổ dưỡng của bạch quả hoặc không dám đụng tới trái bạch quả rụng dưới đất vì nó có mùi khó ngửi. Tên Anh ngữ của bạch quả là Ginkgo bị họ nghịch ngợm gọi là “stinkgo” cũng vì lẽ đó.

 

Trái bạch quả chín và bắt đầu rụng khoảng giữa tháng Mười. Bề nào cũng hay đi dạo công viên chụp ảnh cảnh mùa thu, sẵn thấy trái bạch quả rụng, bạn và tôi lượm đem về lấy hạt nấu chè ăn cho bổ. Riêng trong High Park, nơi gần nhà nhất, tôi thấy có bốn cây bạch quả cái có trái chi chít đầy cành. Để đề phòng bị dị ứng với chất urushiol (chất này cũng thường có ở dây leo thường xuân tức poison ivy) trong trái và lá bạch quả có thể làm ngứa rát da tay, bạn nên đeo găng tay rồi hãy nhặt nó.

 

Một buổi sáng sớm trong High Park, tôi đang cúi nhặt bạch quả thì một nhân viên làm vườn của công viên cười bảo tôi đang phụ bà ta dọn rác đấy và bà cám ơn, thật đúng như câu nói “rác của người này là của cải của người kia”. Nhiệm vụ của bà là nhặt để vứt vì sợ người qua lại giẫm bẹp trái rụng trên lối đi có thể khiến cho lối đi trở nên trơn trợt. Còn tôi đi nhặt hạt dành phần ăn của mấy con sóc.

 


(Phan Hạnh dưới tàng cây bạch quả, xách cây gậy kéo dài ra được để khều trái trên các cành thấp)

 

Mỗi lần đi nhặt, vợ chồng tôi bỏ ra khoảng 45 phút và nhặt được khoảng từ một trăm đến hai trăm hạt, tùy may rủi. Nếu trời mưa gió đêm hôm trước thì chắc chắn quả rụng nhiều tha hồ lượm. Nếu chậm chân đến trễ và có người đã lượm trước rồi thì coi như chúng tôi chỉ đi mót và phải đến thăm cây khác may ra chưa có ai nhặt. Bề nào cũng đi dạo công viên tập thể dục, nếu nhặt được nhiều hạt bạch quả thì tôi xem đó như là phần thưởng, là chiến lợi phẩm.

 

Nhặt quả chỉ là một phần ba hay phân nửa công việc, phần còn lại cũng mất nhiều công lắm, nào là chà xát cho bong ra hết lớp cơm bao bên ngoài hạt, xong rồi để cho hạt khô ráo để bóp bể và bỏ lớp vỏ cứng quanh hạt và chỉ giữ phần nhân dẻo để nấu chè gừng với đường phèn. Bổ hay không chưa biết nhưng chắc chắn đó là một kinh nghiệm vui vui.

 

Đã nhiều lần chúng tôi đi Niagara-on-the-Lake vào mùa thu để vui chơi ngắm cảnh và để ý thấy có một số cây bạch quả “cái” trồng dọc đường phố. Chúng tôi cũng có lượm nhưng không được nhiều, lý do là vì có rất nhiều du khách Á Đông cũng lượm bạch quả. Tôi không ngờ một người quen của tôi - dân Mít ta đàng hoàng chứ không phải Tàu, Đại Hàn hay Nhật - tuần vừa rồi đi đến địa điểm du lịch nổi tiếng đó để hái bạch quả. Tôi xin nói lại một lần nữa là hái chứ không phải nhặt.

 

Giữa đám đông qua lại dập dìu, người bạo gan đó mang theo ba đoạn trúc dài, dùng băng keo nối lại thành cây sào và quơ đập cho bạch quả rụng để vợ con tha hồ lượm. Người hùng cho biết qua đợt hành quân càn quét đó, anh thu hoạch được 40 pounds trái bạch quả. Vì trái chưa hoàn toàn chín cho nên anh phải mất công lâu hơn để làm sạch hạt. Một điểm thất bại khác là vì trái chưa chín tới nên có nhiều vị đắng hơn. Bạn nhớ đấy, bạch quả rụng ăn mới ngon. Dù sao đối với tôi, người bạn đó đã tạo một kỷ lục.

 

Hầu như tất cả những cây bạch quả ở Toronto cũng như trên thế giới đều do người trồng chứ không phải mọc hoang ngoại trừ một vài nơi ở Hoa Lục. Càng trở về sau, bạch quả là giống cây càng được ưa chuộng nhất để trồng ở đô thị vùng khí hậu ôn đới vì các ưu điểm: lá vàng đều vào mùa thu trông rất đẹp, phát triển chậm, cao to, có táng rộng cho bóng mát, miễn nhiễm sâu bọ bệnh tật, chịu đựng được điều kiện thời tiết khắc nghiệt và sống thọ qua nhiều thế kỷ. Tuy rằng giới chức thành phố có chủ đích chỉ trồng cây đực, nhưng sai sót vẫn có thể xảy ra và chỉ phát hiện ba bốn chục năm sau khi cây đủ tuổi ra trái.

 

Một cặp vợ chồng nọ mười mấy năm trước mua một ngôi nhà trên đường Princeton Road gần ngã tư Royal York và Dundas St W, trước nhà có cây bạch quả cao cho bóng mát rất vừa ý. Đến khi ba năm trước đây, cây bạch quả ra trái, mùa thu trái chín rụng đầy bị đạp vỡ ra bốc mùi hôi chua như phân chó mèo khiến gia chủ mỗi ngày phải mất công hốt dọn.

 

Vì cây bạch quả đó do sở lâm viên thành phố trồng khoảng 50 năm trước do lầm tưởng đó là một cây đực, vợ chồng gia chủ liên lạc với thành phố và yêu cầu thay thế bằng cây khác không trái. Sở lâm viên thành phố đồng ý với điều kiện gia chủ phải trả chi phí $10,837: $9,000 giá trị của cây bạch quả, $954 phí tổn cưa đốn và dọn cây, $583 chi phí trồng cây mới, và $300 phí hành chánh không hoàn trả. Cho dù gia chủ chịu trả chi phí, trước khi thi hành, mọi thủ tục còn phải được hội đồng thành phố cứu xét, và họ đã không chấp thuận việc đốn một cây bạch quả sung sức lành mạnh. Bạn hãy đến địa chỉ 44 Princeton Road tha hồ nhặt quả.

 

Nếu có người không thích cây bạch quả cái thì ngược lại cũng có người thích như chàng phi công dân sự người nước Slovakia tên Martin Dusan Kuchta. Martin kể rằng vào năm 1996, anh là phi công trưởng của hãng hàng không Czech Airlines và hay đến Toronto. Vốn là người có sở thích cây cối, một ngày đầu tháng 11 Martin tản bộ ở Moss Park (tọa lạc góc đường Queen St E  và Sherbourne St) và trông thấy cây bạch quả rất đẹp đầy trái chín, thế là anh nảy ý định lấy hạt về trồng ở quê nhà. Năm 2006, cây bạch quả Martin trồng từ hạt ở Toronto đã phát triển tốt và cao khoảng bốn thước.

 

Người Âu Châu đã chú trọng đến cây bạch quả từ thế kỷ thứ 18 vì hình thù và sắc đẹp của nó. Ông Englebert Kaempfer, một y sĩ và nhà thực vật học người Đức, lần đầu tiên trong cuộc đời ông được thấy cây bạch quả trong chuyến công du Nhật Bản. Sau đó ông Carolus Linnaeus, người Thụy Điển, cũng là một nhà thực vật học, trong việc xếp lọai hệ thống các lọai động vật và thực vật, đã đặt tên Ginkgo Biloba cho cây bạch quả. Năm 1727, người ta mang cây bạch quả từ Trung Hoa tới Âu châu và trồng tại vườn dành cho những cây nhiệt đới.

 

Tại Hoa Kỳ, năm 1784 ông Hamilton là người đầu tiên trồng cây bạch quả tại sân nhà ông ở Philadelphia và cây ấy hãy còn sống ngay cạnh nghĩa trang Woodlawn. Khắp Hoa Kỳ và Canada, những thành phố lớn hầu như đều có trồng cây bạch quả.

 

Hiện nay có nhiều nông trại ở Hoa kỳ trồng loại cây này, chẳng hạn như ở South Carolina để sản xuất và cung cấp lá cho các nhà bào chế các sản phẩm bạch quả.

Cây và lá bạch quả được đề cập đến nhiều trong văn chương Nhật bản và Trung Hoa. Hình họa của nó có mặt hầu như trong mọi ngành mỹ thuật như điêu khắc, hội họa, gốm sứ, thêu dệt… phần lớn ở Á Đông và một phần nhỏ ở Âu Mỹ. Năm 1815, thi sĩ, khoa học gia, triết gia, và chuyên gia nghiên cứu  thực vật Johann Wolfgang von Goethe của nước Đức có sáng tác bài thơ Ginkgo biloba để tặng bà Marianne van Sillemer trong một buổi họp bạn. Goethe xem bạch quả là biểu tượng của tình yêu đan kết tình bạn khi quan sát vẻ đẹp của lá cây bạch quả trong vườn và cảm xúc đề bút thành thơ, nguyên bản hiện vẫn còn giữ tại Heidelberg.

 

Bạch quả được ca ngợi là thần dược. Một số trang web Việt ngữ có đăng bài viết “Bạch Quả: Trường Sinh Dược Thảo” của tác giả Trần Khánh Liễm nói khá đầy đủ các lợi ích của bạch quả đối với sức khỏe con người. Tác giả đưa ra ba trường hợp chứng minh sự hiệu nghiệm của việc chữa bệnh bằng bạch quả như sau:

 

1.- Tôi có người anh kết nghĩa năm nay 82 tuổi. Cách đây trên mười năm, vì rủi ro, anh đang lái xe bỗng dưng buồn ngủ, đâm vào chiếc xe 18 bánh đang đậu bên đường. Kết quả bị gẫy hai chân, gẫy hai tay và mất một cái đầu gối. Sau mấy tháng nằm bệnh viện, anh đã phải qua nhiều cuộc giải phẫu và cuối cùng anh được xuất viện. Anh tiếp tục tập luyện, cuối cùng đi lại bình thường. Mỗi khi trái gió trở trời, anh bị đau nhức thê thảm. Anh đi bác sĩ và được cho toa. Nhưng uống thuốc tê thấp không phải lúc nào cũng dễ vì nếu uống thuốc lâu, thuốc có thể làm nguy hại đến những bộ phận khác trong cơ thể. Một hôm, anh nghe người ta chỉ, dùng trà bạch quả, anh thấy dễ chịu hẳn lên, lại cảm thấy tâm trí thỏai mái, trí nhớ được phục hồi có thể ngồi viết lại những phần nhật ký anh chưa hoàn tất được. Rồi sau đó anh tìm hiểu nhiều về các lọai dược phẩm. Nay anh đã được bình phục và không còn đau nhức nhiều như trước kia nữa, thật là một an ủi lớn cho anh.

 

2.- Một người khác, bạn của anh tôi, năm nay 73 tuổi. Anh bị đau ở bả vai phải, kéo xuống cánh tay và bàn tay rất khó chịu. Anh đã đi mấy bác sĩ, uống năm sáu toa thuốc không thấy khỏi. Anh dùng sản phẩm bạch quả trong hai tuần, anh đã hết bệnh, sau đó anh đi mua ngay cây bạch quả 15 gallon, đưa về trồng trước cửa nhà. Mỗi sáng đi tập thể dục về, anh lấy mấy lá nhai rồi nuốt đi. Cách đây ít lâu, anh cho biết là lá bạch quả đã đem lại cho anh sức khoẻ lạ thường, cảm thấy người thật là cường tráng.

 

3.- Hai tháng nay, tôi được biết một người bạn, tâm hồn rất sáng suốt minh mẫn, nhưng cơ thể anh xuống dốc thê thảm. Các khớp xương của anh đau nhức. Mỗi khi cơn đau lên như thế, các bắp thịt kéo co lại đau đớn lắm. Anh tìm đọc tài liệu về sản phẩm bạch quả. Mấy hôm sau anh mua về dùng. Ngày hôm sau anh cho biết chưa bao giờ anh có được giấc ngủ ngon như thế, một tuần sau anh cho tôi biết các khớp xương hãy còn đau nhưng bắp thịt không co lại và không còn đau nữa.

(Ngưng trích)

 

Gọi bạch quả (hay ngân hạnh) là trường sinh dược thảo kể cũng không ngoa. Khoa học chứng minh cây bạch quả đã hiện diện trên quả địa cầu từ 270 triệu năm trước cùng thời với khủng long. Năm 2009, người ta tìm thấy một cây bạch quả khổng lồ tại thôn Thiên Đài, huyện Trường Thuận, tỉnh Quý Châu Trung Hoa. Thật ra đó là một chùm cây gồm hai cây bạch quả “tổ tiên” với rất nhiều cây “con cháu” ở xung quanh và chúng khác nhau rất nhiều về mặt độ dày và chiều cao.

 

Người dân địa phương nói rằng “hóa thạch sống” này vẫn đầy sinh khí trong mùa hè và có thể sản sinh ra hơn 4.000 cân Anh hạt mỗi năm. Là nơi trú ẩn an toàn cho nhiều loài chim, chùm cây này được coi là rất linh thiêng đối với dân làng. Những người dân làng dù ở gần hay xa đều tới cầu nguyện và tế tự dưới cây để cầu xin cho điều kiện thời tiết thuận lợi.

 

Cây bạch quả cổ thụ này có chu vi 16,8 mét (55,1 feet), tương đương với 13 đứa trẻ nắm tay nhau ôm vòng quanh thân cây. Nó có chiều cao 50 mét (164 feet), và tán của nó bao phủ một vùng rộng cỡ nửa héc-ta. Theo các chuyên gia lâm nghiệp, cây này đã sống thọ hơn 4.000 năm, được đặt cho biệt danh “Trung Hoa ngân hạnh vương” và được công nhận trong sách Guinness Book of World Records năm 1998.

 

Mấy mươi năm gần đây, sau nhiều cuộc khảo cứu, người Tây phương tiêu thụ các sản phẩm xuất chiết từ lá và hạt bạch quả càng nhiều. Bạch quả đã được chứng minh lâm sàng chữa được chứng ù tai, một vấn đề thường gặp nhưng khó trị. Trong một số nghiên cứu được thực hiện tại Pháp vào cuối năm 1970, từ 40 đến 74 phần trăm bệnh nhân mắc bệnh ù tai, chóng mặt, và mất thính giác nhận thấy có sự cải thiện đáng kể với việc sử dụng bạch quả. Thảo mộc kỳ diệu này cũng thấy là có lợi cho việc điều trị đau đầu, trầm cảm, dị ứng, xơ vữa động mạch, rối loạn nhịp tim, bệnh mạch máu ngoại biên do tiểu đường, da sẩn ngứa, bệnh tăng nhãn áp, bất lực, viêm võng mạc và dây thần kinh, cũng như các giai đoạn đầu của bệnh Alzheimer.

 

Sản phẩm bạch quả thường đi kèm trong viên thuốc hoặc dạng viên nang. Liều điều trị thông thường là 40 mg đến 120 mg, 2-3 lần mỗi ngày. Trong 30 năm qua, bạch quả đã chứng minh hiệu quả của nó đối với nhiều người tăng trí nhớ, giúp sự tuần hoàn, và điều trị một loạt các vấn đề sức khỏe.

 

Người ta nói đùa rằng bạn không bao giờ nên uống thuốc ngủ và bạch quả cùng một lúc. Tại sao? Tại vì nó sẽ làm cho bạn ngủ say, bạn có thể nằm mơ mê man nhớ đủ mọi chuyện nọ chuyện kia và không thể thức dậy!

 

Bạn hãy nhận biết rằng không phải tất cả các sản phẩm bạch quả đều giống nhau. Có thứ không chứa đủ tất cả các thành phần hoạt động hữu hiệu. Tránh mua thứ rẻ tiền. Bạn nên đọc nhãn kỹ; sản phẩm phải có ít nhất 24% "flavonoid" hoặc "glycoside flavone bạch quả" và sáu phần trăm "ginkgolides" hoặc "terpene lactones." Tuy bạch quả không gây tác dụng phụ nào trầm trọng nhưng trước khi dùng bạn cũng nên hỏi bác sĩ gia đình của bạn cho chắc ăn, nhất là nếu bạn đang dùng chất làm loãng máu, aspirin, tỏi, vitamin E, gừng, hay Coumadin.

 

Người Triều Tiên gọi bạch quả là “Eun Hang”, có nghĩa là ngân hạnh và phát âm giống y như ngân hàng. Trong chương trình truyền hình “1 Night 2 Days”, nam diễn viên Đại Hàn Yoo Hae Jin kể chuyện vui rằng hai bên lề đường phố Hán Thành có rất nhiều cây bạch quả và người qua đường ai cũng mừng rỡ kêu lên “ngân hàng” và cùng nhau nhặt quả rụng như nhặt tiền. Hai thành phố thủ đô Bắc Kinh và Đông Kinh của Trung Hoa và Nhật Bản cũng có trồng rất nhiều cây bạch quả, tạo nên cảnh trí thu vàng quyến rũ và lãng mạn.

 

Thủ đô Hán Thành bắt đầu hạn chế việc trồng thêm bạch quả trong những năm gần đây sau khi nhận được nhiều lời phàn nàn về mùi hôi của loại cây này từ người dân. Tỷ lệ cây bạch quả đã giảm xuống còn 40,3 % vào năm 2012, tương ứng với sự gia tăng của các loại cây khác như cử và anh đào. Số cây bạch quả cái ở thủ đô hiện nay là 25.800 cây. Nhằm nỗ lực ngăn chặn mùi hôi của trái bạch quả chín rụng, vào năm ngoái, sở công viên cử các toán đặc nhiệm hái tất cả quả trên cây trước khi chúng rụng xuống đất, thu được khoảng 4 tấn quả. Sau khi kiểm tra hàm lượng kim loại nặng trong quả, chính phủ đem phân phát cho người cao niên trong thành phố. Tôi nghĩ Toronto nên bắt chước Hán Thành áp dụng biện pháp này trong những năm sau khi tôi không còn sức đi nhặt bạch quả nữa.

 

Phan Hạnh,  29/10/2013.

 

Nguồn tham khảo:







 

Con Ngựa Trong Anh Ngữ


Con Ngựa Trong Anh Ngữ

Phan Hạnh

 


 

Việt ngữ của chúng ta không có nhiều chữ khác nhau để gọi con ngựa, chỉ có chữ “ngựa” hoặc chữ “mã” gốc Hán Việt: ngựa con, ngựa già, ngựa đực, ngựa cái, ngựa rừng, ngựa rằn…  Trong khi đó, Anh ngữ có rất nhiều chữ phân biệt để gọi ngựa: horse (nói chung), pony (ngựa nhỏ, ngựa con nói chung, thấp dưới 58 phân Anh), pinto (ngựa có hai độ màu lông đậm lợt khác nhau), dun (ngựa có  sọc), mare (ngựa cái, bốn tuổi trở lên), stallion (ngựa đực, bốn tuổi trở lên), stud (ngựa nọc, chỉ để gieo giống), bronc hay bronco (ngựa chưa được huấn luyện), feral (ngựa trang trại thả về rừng hoặc tự bỏ trốn đi hoang), brumby (tên mà người Úc gọi một con ngựa feral), mustang (ngựa hoang Mỹ châu), foal (ngựa con còn bú sữa mẹ, nói chung), filly (ngựa cái con còn bú sữa mẹ), colt (ngựa đực con còn bú sữa mẹ), weanling(ngựa con mới dứt sữa và bắt đầu ăn cỏ), yearling (ngựa con từ một tới hai tuổi), zebra (ngựa rằn). Ngoài ra còn cả lô tên gọi khác cho ngựa tùy theo đặc tính màu sắc hay chủng loại.

 

Bị ngựa đá một lần nhớ đời sẽ dễ đưa đến bệnh sợ ngựa, một nỗi sợ về tâm lý, Anh ngữ gọi làhippophobia hoặc equinophobia, trái với sự và người yêu thích ngựa là hippophile hoặc equinophile. Con ngựa nào tỏ ra hung hăng dữ dằn bất trị (ngựa chứng) hay đá người, hay gây sự với ngựa khác thường bị chủ mang đi thiến và trở thành ngựa thiến (gelding). Trong các đơn vị kỵ binh trước thế chiến, ngoài trường hợp tử vong vì té ngựa còn có một số trường hợp bị chính con ngựa mình cỡi đá chết. Thuở nhỏ, tổng thống Abraham Lincoln của Hoa Kỳ từng bị ngựa đá trúng mặt, nhưng người ta không thể quyết đoán có phải vì vậy mà nửa mặt bên trái của ông hơi bị lệch và biến dạng khiến cho ông bị mắt thấp mắt cao. 


 

Từ lâu, tôi đã ngộ nhận chữ “equestrian” là người cỡi ngựa vì trong trí tôi đã quen nghĩ rằng “ian” là tiếp vĩ ngữ gốc La-tinh có nghĩa là người, giống như các chữ Canadian, musician, pedestrian, physician, technician, v.v.. Thật ra “equestrian” có nghĩa là sự cỡi ngựa (the horseback riding), do chữ “equine” (từ gốc La-tinh equus có nghĩa là con thú thuộc loài lừa ngựa nói chung), còn người cỡi ngựa đơn giản chỉ gọi là “horseman”. Từ đó có chữ “horsemanship” và chữ “equitation” là tài cỡi ngựa để phân biệt với chữ “equestrianism” là môn nghệ thuật cỡi ngựa.

 

Đúng, Equestria là tên của một vùng đất đai, một xứ sở, nhưng đó chỉ là tên của vương quốc giả tưởng của loài ngựa trong My Little Pony: Friendship Is Magic, một loạt phim hoạt hình truyền hình do Hasbro Studios ở Mỹ và studio DHX Media ở Canada sản xuất, ra mắt trình chiếu vào ngày 10 tháng 10 năm 2010. Trong vùng đất huyền diệu Equestria, nhân vật chính, công chúa Twinkle Sparkle, sống với nhóm bạn bè của cô là Applejack, Rainbow Dash, Pinkie Pie, Rarity, Fluttershy và Spike tại thị trấn Ponyville. Sống cùng nhau, họ, tất cả đều là ngựa được nhân cách hóa, tìm hiểu và khám phá về sự kỳ diệu của tình bạn. Hiểu theo kiểu của tôi Equestrian là người nước Equestria thì hỏng. Thế mới biết học tới chết cũng chưa đủ.

 

Bạn cũng biết, Binh Chủng Thiết Giáp gồm các đơn vị Kỵ Binh, mặc dù vai trò con ngựa đã được thay thế bằng những chiếc xe tăng tối tân, trong Anh ngữ vẫn gọi là Cavalry Corps. ChữCavalry xuất xứ từ chữ cavalerie của Pháp, với các chữ có cùng gốc gác như cavale,cavalerchevalchevalierchevaleresque… Hèn gì dân đi vũ trường gọi các cô gái nhảy là ca ve. Hèn chi các bà vợ ghen gọi các cô gái nhảy là ngựa.

 

Bây giờ xin mời các bạn xem xét qua một số thành ngữ, tục ngữ Anh thông dụng liên quan đến ngựa nhé.

 

Don’t change horses in midstream. Nghĩa đen: Đừng thay ngựa giữa dòng.

Nghĩa bóng: Đừng thay đổi kế hoạch nửa chừng. Thành ngữ này ngày nay rất phổ biến, chắc tại vì nó được tổng thống Abraham Lincoln dùng trong một bài diễn văn vào năm 1864 với ý nói không nên thay đổi nhân sự hay vị trí khi dự án đang thực hiện nửa chừng. Nếu bạn đã tốn công khó điều khiển một con ngựa đi tới giữa dòng sông một cách suôn sẻ rồi thì tốt hơn bạn đừng tính chuyện đổi ngựa khác vì điều đó quá rủi ro. Có người xem kế hoạch Hoa Kỳ thay thế tổng thống Ngô Đình Diệm là một ví dụ tiêu biểu cho sự thay ngựa giữa dòng, dẫn đến kết quả tai hại hỗn loạn về chính trị và làm suy yếu tiềm lực chống cộng của đất nước non trẻ VNCH.

Don’t look a gift horse in the mouth. Nghĩa đen của câu này là đừng khám răng của con ngựa người ta tặng cho mình. Như bạn biết, răng ngựa mọc dài thêm và nhô ra thêm theo tuổi tác. Xem răng một con ngựa, người ta có thể đoán được tuổi của nó. Theo bản năng tự nhiên của con người (nhất là trẻ con chưa ý thức nhiều về phép lịch sự trong giao tế), mỗi khi nhận được một món quà, người nhận thường háo hức săm soi món quà đó ngay, đôi khi không giấu được sự thất vọng khi thấy món quà không đúng như ý muốn. Theo nghĩa bóng, câu châm ngôn này hàm ý rằng đừng nên quá chú trọng đến phẩm chất của một món quà tặng, nhất là trước mặt người tặng quà. Nên chấp nhận một món quà với lòng biết ơn hơn là chỉ trích món quà không hoàn hảo.

 

Tương tự với nghĩa trên, ta có thành ngữ Straight from the horse’s mouth, nghĩa đen là thẳng từ miệng con ngựa. Thành ngữ này có nghĩa bóng là tin tức rất đáng tin cậy vì phát xuất từ nguồn gốc nguyên thủy. Sở dĩ người Mỹ có câu nói này là vì ngày xưa khi ngựa còn là phương tiện chuyên chở chính, người ta mua sắm ngựa như ngày nay mua xe hơi. Muốn biết con ngựa được bao nhiêu tuổi, họ phải nhìn vào hàm răng của nó thì mới biết được. Sau này, thành ngữ Straight from the horse's mouth được giới đánh cá ngựa dùng để chỉ những tin tức sốt dẻo cho biết con ngựa nào có ưu thế hơn và sẽ thắng. 


 

You can lead a horse to water but you can’t make him drink. Nghĩa đen: Bạn có thể dắt con ngựa tới chỗ để nước nhưng bạn không thể khiến cho nó uống. Nghĩa bóng: Câu tục ngữ này có từ thế kỷ thứ 16 ở Anh quốc, nghĩa tương đối đơn giản, với ý nói rằng bạn có thể tạo cơ hội cho ai đó nhưng bạn không thể buộc họ phải nắm lấy cơ hội đó. Nói một cách khác, bạn không thể bắt ai đó làm điều gì đó, trừ khi họ đã sẵn sàng muốn làm. Bạn có thể cho một người nào đó lời khuyên tốt nhưng bạn không thể làm cho họ tuân hành áp dụng. Câu tục ngữ này xuất phát từ sự kiện thực tế là ngựa thường ít khi chịu uống nước nơi chưa quen, ngay cả khi chúng đang khát và cần uống.

 

Charley horse. Tiếng lóng, có nghĩa là vọp bẻ, chuột rút.

 

A horse of different color. Nghĩa đen: Một con ngựa khác màu. Nghĩa bóng của thành ngữ này là một cái gì đó có thể hoàn toàn tách biệt với những gì mà người ta dự kiến ​​hay tiên liệu, một sự bất ngờ trái với sự mong đợi và gây thất vọng.

Một con ngựa khác màu cũng dùng để chỉ trường hợp một người hay một vật nào đó không phù hợp hay thích ứng với nguyên nhóm. Thành ngữ này bắt nguồn từ lời đối thoại trong màn hai của vở kịch Twelfth Night của William Shakespeare.

Tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ John Adams cũng dùng biểu tượng ngựa khác màu để nói về lòng trung thành và sự chia rẽ. Ông gọi một nhóm người chống đối là những con ngựa khác màu.

 

Every horse thinks its own pack heaviest. Nghĩa đen:Mỗi con ngựa đều nghĩ rằng trọng tải trên lưng mình là nặng nhất. Nghĩa bóng: Theo tâm lý và lẽ thường tình, người ta ai ai cũng chỉ nghĩ đến mình mà không quan tâm đến người khác, hay phàn nàn rằng mình là người phải lãnh phần việc nặng nhọc hơn, số phận của mình kém may mắn hơn mọi người khác. Thật ra ai ai cũng có nỗi khó khăn riêng, nỗi buồn riêng, khó có thể so sánh được. Người khác cũng phải chịu gánh nặng của công việc và nỗi lo nghĩ như nhau.

 

A one-horse race. Nghĩa đen: Cuộc đua một ngựa. Nghĩa bóng: Một cuộc thi mà trong đó, ngay từ lúc nhập cuộc, một phe ứng thí có khả năng vượt trội xa hơn nhiều so với các đối thủ khác, và rõ ràng có cơ may để giành chiến thắng.

 

Don’t back the wrong horse. Nghĩa đen: Đừng theo con ngựa dở. Nghĩa bóng: Đừng nhầm ủng hộ, hỗ trợ một ứng cử viên dở vì điều đó chắc chắn sẽ đưa đến thất bại.

 

Don’t beat a dead horse. Nghĩa đen: Đừng đánh một con ngựa đã chết. Khi một con ngựa chết rồi thì dù người chủ có đánh đập nó, nó cũng không thể đứng dậy đi được nữa. Nghĩa bóng: Đừng cố gắng vô ích trước một chuyện đã rồi.

 

Don’t put the cart before the horse. Nghĩ đen: Đừng đặt chiếc xe trước con ngựa. (Tiếng Việt có câu Đừng đặt cái cày trước con trâu). Nghĩa bóng: Đừng làm chuyện ngược đời vô lý. Theo lẽ tự nhiên, con ngựa kéo chiếc xe nên con ngựa phải ở trước chiếc xe. Thế giới này có trật tự riêng của nó. Tất cả mọi sự vật, sự việc cũng có trật tự trước sau. Ta không nên hấp tấp, vội vã đốt cháy giai đoạn mà đảo lộn các bước theo đúng trình tự vốn có theo quy luật. Trong tiếng Việt có câu tục ngữ  "Đừng cầm đèn chạy trước ô tô" mang ý nghĩa tương tự. Tốt nhất ta nên tuân thủ đúng các trật tự trong cuộc sống. Câu này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1589 trong quyển sách The Arte of English Poesie của George Puttenham. Có lẽ tác giả đã dịch ra từ một câu tục ngữ cổ Hy Lạp.

 

Don’t spare the horses. Nghĩa đen: Đừng dành thì giờ lo cho mấy con ngựa. Nghĩa bóng: Ý câu này muốn nói là đừng kể gì đến phương tiện mà hãy chú tâm vào mục đích chính (cứu cánh).

Nguồn gốc câu này có từ thời Nữ hoàng Victoria trị vì nước Anh vào hậu bán thế kỷ thứ 19. Sự tích kể rằng Nữ hoàng Victoria có người phu xe ngựa tên James Darling. Theo truyền thống vương giả thượng lưu, đáng lẽ Nữ hoàng gọi thần dân bằng họ của người đó. Nhưng “Darling” , họ của “tài xế riêng” của bà, lại cũng có nghĩa là “cưng yêu quí”, nếu bà xưng hô như thế e có vẻ không phù hợp.

Vì thế, bất đắc dĩ Nữ hoàng Victoria đành phải gọi người mã phu bắng tên James, một cách xưng hô thân mật của dân giả.

Lần đó sau một chuyến du hành bằng xe lửa hoàng gia, bà trở về London. Vừa đến ga Paddington, bà nôn nóng muốn về “nhà” là cung điện Buckingham. Thấy “bác tài” cứ nhẩn nha cẩn thận xem xét lại mấy con ngựa, bà thốt câu ra lệnh: “Home James! And don’t spare the horses!” (Về nhà ngay James! Đừng màng tới mấy con ngựa!) Và câu nói đó đã “phi nước đại” đi vào lịch sử. 

 

To Be on Your High Horse. Nghĩa đen: Ngồi cao trên lưng ngựa. Thành ngữ này được dùng từ thời thế kỷ thứ 14 ở Âu Châu, khi giới thượng lưu quyền quý thường cỡi những con ngựa cao nhất mà họ có thể mua được để chứng tỏ là họ quan trọng hơn giới thường dân. Nghĩa bóng: Ngày nay, người Mỹ dùng thành ngữ To Be on Your High Horse để chỉ một người tự cho là mình quan trọng cho nên coi thường người chung quanh.

 

“Get off your high horse.” Nghĩa đen: “Hãy xuống ngựa đi.” Nghĩa bóng: “Đừng kiêu ngạo nữa.” Một khi đã xuống ngựa, chưa chắc người đó cao hơn về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Thái độ của kẻ kiêu ngạo là luôn nghĩ rằng mình ở vị trí cao trọng hơn người khác, đối xử với người khác như thể họ thấp bé hơn mình. Thành ngữ này xuất phát từ thời xưa khi tầng lớp thượng lưu thường cỡi ngựa. Họ có khuynh hướng hành động ngạo mạn của cấp trên khi giao tiếp với một người bình thường. 

 

“Hold your horses!” Nghĩa đen: “Ngừng ngựa của bạn lại!” Nghĩa bóng: Hãy tạm giữ yên vị trí tại chỗ. Câu này có lẽ bắt nguồn từ chiến trận, khi vị chỉ huy ra lệnh cho binh sĩ của mình hãy bình tĩnh, kìm cương ngựa lại để đợi lệnh mới. Ngày nay, thành ngữ này trở nên thông dụng hơn và được dùng trong mọi trường hợp và có nghĩa là “đừng vội, hãy bình tĩnh, hãy kiên nhẫn chờ thời cơ thuận tiện rồi hãy hành động”.

 

A dark horse. Nghĩa đen: Một con ngựa đen. Nghĩa bóng: Một nhân vật mới lạ như từ trong bóng tối chui ra, chưa ai biết. Từ ngữ dark horse xuất xứ từ giới đua ngựa cách đây hơn 150 năm để chỉ một con ngựa đua mà không ai biết đến thành tích gì của nó cả. Ngày nay, nó được dùng để chỉ một ứng cử viên mà đa số cử tri chưa nghe nói tới bao giờ. Phần đông những ứng cử viên như vậy thường thua xa trong các cuộc tranh cử, nhưng đôi khi họ cũng làm cho các chuyên gia chính trị phải ngạc nhiên khi họ thắng cử, tạo nên trường hợp mà giới trường đua gọi là ngựa về ngược.

 

Horse sense. Nghĩa đen: Giác quan của ngựa. Nghĩa bóng: Khả năng tốt khi nhận xét, phán đoán và quyết định một chuyện gì.

 

Horses for courses. Nghĩa đen: Mỗi con ngựa quen đường đi nước bước của nó. Có con quen đường đất bằng phẳng, có con quen đường rừng hay đường núi hiểm trở. Nghĩa bóng: Mỗi người có một khả năng chuyên môn riêng, không ai giống ai, nên quan trọng là phải dùng đúng người đúng khả năng. 


 

If two ride on a horse, one must ride behind. Nghĩa đen: Nếu hai người cỡi một con ngựa thì một người phải ngồi đàng sau. Nghĩa bóng: Khi hai người cùng chung với nhau làm một việc thì phải có một người chính (cầm đầu, chỉ huy) và một người phụ thì công việc mới êm xuôi.

 

If wishes were horses, then beggars would ride. Nghĩa đen: Nếu mọi điều ước là có được ngựa thì ngay cả ăn mày cũng sẽ có ngựa để cỡi. Nghĩa bóng: Ước muốn viễn vong mãi mãi cũng chỉ là ước muốn, vì nếu như mọi ước muốn đều trở thành sự thật thì ngay cả một người chẳng cần làm gì hết cũng sẽ có đủ mọi thứ để mà thụ hưởng. Nếu, giá như, ước gì… tất cả mọi giả định đều vô ích.

 

A nod is as good as a wink (to a blind horse). Nghĩa đen: Một cái gật đầu cũng tốt như một cái nháy mắt (đối với một con ngựa mù). Nghĩa bóng của A nod is as good as a wink: Ý nói chỉ cần một sự ra hiệu vắn tắt ngắn gọn cũng đủ cho người khác hiểu mà không cần phải giải thích cặn kẽ dài dòng. Khi câu này có thêm “to a blind horse” thì nó có nghĩa là: đối với một người kém hiểu biết chuyên môn, dùng từ ngữ đơn giản thường cũng đủ thay vì tốn công giảng giải vòng vo

 

This is a one-horse town. Nghĩa đen: Đây là thị trấn chỉ có một con ngựa. Nghĩa bóng muốn chỉ đây là một nơi chốn nhỏ ít ai biết đến, không quan trọng.

Thành ngữ này, đầu tiên được ghi vào năm 1857, vì thuở đó có những thị trấn nhỏ chỉ cần một con ngựa duy nhất cũng đủ cho nhu cầu vận chuyển.

 

Play the ponies. Nghĩa đen: Chơi đùa với ngựa con. Nghĩa bóng: Đây là một câu tiếng lóng của dân đi đánh cá ngựa khi họ tránh dùng “Play the horses” vì không muốn cho người ngoài cuộc biết.

 

Put a horse out to pasture. Nghĩa đen: Đưa một con ngựa ra đồng cỏ. Khi một con ngựa yếu sức vì tuổi già hay bệnh tật mất khả năng làm việc, chủ thường không dùng nó nữa và thả nó ra đồng suốt ngày nhai cỏ. Nghĩa bóng: Đặt ai đó ra khỏi môi trường hoạt động, cho người đó ngồi chơi xơi nước, với lý do người đó không còn đủ khả năng hoặc không còn thích hợp.

 

Strong as a horse. Câu ví von dùng để chỉ một người có sức mạnh: mạnh như trâu, mạnh như cọp, mạnh như voi…

 

Get on one’s hobby horse. Nghĩa đen: Làm bộ như đang cỡi ngựa. Bạn có xem hát bộ bao giờ chưa? Đào kép hát bộ thường kẹp một cây chổi lông gà dưới háng rồi nhún nhẩy trên sàn sân khấu như là đang cỡi ngựa. Hobby horse là chữ để gọi bất cứ vật gì giả làm con ngựa. Theo nghĩa bóng, nếu một người nào đó cỡi hobby horse của họ tức là họ đang ba hoa chích chòe nói về một chủ đề mà họ cho là thú vị và quan trọng, và họ cứ thao thao bất cứ lúc nào mà họ có thể, ngay cả khi người khác không quan tâm để ý và không muốn nghe.

 

Work horse. Nghĩa đen: ngựa làm việc. Nghĩa bóng mô tả một cá nhân làm việc chăm chỉ, đặc biệt là khi so sánh với những người khác. Đôi khi chữ work horse cũng được dùng để mô tả một người chỉ cắm cúi làm việc hùng hục thật chăm chỉ  nhưng không có năng khiếu suy nghĩ phán đoán.

Trước đây chữ này được dùng để mô tả một con ngựa chủ yếu cho các việc nặng (chẳng hạn như một con ngựa kéo cày) chứ không phải được dùng trong các hoạt động đòi hỏi tay nghề cao hơn nhưng đỡ vất vả hơn, chẳng hạn như để cho chủ cỡi hoặc đua xe.


 

Dog and pony show. Nghĩa đen: Sô trình diễn chó và ngựa con. Nghĩa bóng: Quảng cáo rầm rộ nhưng thực chất nội dung không có gì quá đặc biệt. Ví dụ, 'Cuộc họp được cho là để mô tả một chiến lược bán hàng mới nhưng thực sự chỉ là cách tiếp thị cũ. Đúng là một màn trình diễn chó và ngựa con.’ Thuật ngữ này bắt đầu từ những năm 1800, khi những đoàn xiếc lưu diễn khá phổ biến. Một số đoàn xiếc nhỏ không thể có đủ khả năng sở hữu các động vật kỳ lạ hoặc thuê mướn các biểu diễn viên tài ba, vì vậy họ cung cấp các màn trình diễn chỉ có chó và ngựa con. Trường hợp như vậy thường gây thất vọng cho khán giả địa phương vốn mong đợi cái gì hào hứng thú vị hơn như quảng cáo.

 

Old war horse. Con chiến mã già. Nghĩa bóng thành ngữ này chỉ một người từng trải kinh nghiệm chiến tranh, một chiến binh về già, hay cũng có thể dùng để chỉ một người già dặn dạn dày kinh nghiệm trong bất cứ lãnh vực nào khác, như chính trị, tài chánh chẳng hạn.

 

Trojan Horse. Ngựa thành Troy. Nghĩa bóng chỉ một cái gì đó nguy hiểm được che đậy bên trong một cái gì đó trông an toàn hoặc có lợi. Nguồn gốc của thành ngữ này nói về cuộc chiến tranh giữa Hy Lạp và Troy giữa thế kỷ 13 trước Công nguyên, khi người Hy Lạp xây dựng một con ngựa gỗ lớn và để lại bên ngoài cổng thành người Troy như một món quà tặng. Tuy nhiên, người Hy Lạp đã giấu những người lính trong con ngựa gỗ, vì vậy khi người Troy (Trojan) kéo con ngựa  quà vào thành của họ, toán quân “biệt kích” núp trong thân ngựa rỗng đợi khi đêm xuống đã giết lính gác và mở cửa thành cho quân đội Hy Lạp tràn vào tấn công và chiếm được thành Troy.

Đối với người dùng Internet (cư dân mạng), Trojan là tên của một loại virus, mầm độc hại được ẩn giấu bên trong các nhu liệu ứng dụng hữu ích, vì vậy khi người nào tải nhu liệu này về máy tính của họ, virus Trojan sẽ xâm nhập và truy cập vào dữ liệu của máy tính.

 

Để kết thúc bài dông dài này, người viết xin liệt kê một số sự kiện về ngựa sau đây.

 

- Ngựa có ruột non bình thường dài khoảng 75 feet, ruột già bình thường dài khoảng 12 feet.

- Ngựa sản xuất trung bình 12 lít nước bọt mỗi ngày để giúp cho sự tiêu hoá cỏ khô được dễ dàng.

- Ngựa không thể thở bằng miệng và không thể nôn mửa.

- Ngựa chạy có thể đạt đến tốc độ tối đa là khoảng 45 mph (70 km/giờ), tốc độ đi trung bình vào khoảng ba, bốn dặm một giờ.

- Ngựa có đôi mắt lớn nhất so với bất kỳ động vật nào.

- Ngựa và người là hai loài động vật duy nhất có thể đổ mồ hôi qua da để làm mát.

- Ngựa tiêu thụ một lít (0.25 gallon) dưỡng khí một phút trong khi đi bộ. Nhưng khi phi nước đại trong một cuộc chạy đua, ngựa thở dồn dập mỗi hơi một bước chạy, tiêu thụ gần 60 lít (15 gallon) oxy mỗi phút.

- Ngựa có kích thước thân thể trung bình chứa khoảng 50 pint máu (28 lít) lưu thông qua hệ thống tuần hoàn ở chu kỳ 40 giây.

- Ngựa tốn hao nhiều năng lượng khi nằm hơn là khi đứng.

- Ngựa có bộ phận cơ thể đặc biệt ở chân cho phép chúng ngủ trong khi đứng mà không ngã.

- Ngựa tốn hao năng lượng khi bơi nhiều hơn khi chạy.

- Ngựa có lông có mô hình xoắn ốc độc đáo như vân tay của người, một đặc điểm để xác định giống loại.

- Ngựa Camargue (tên một vùng đất thấp và đầm lầy có sông Rhone chảy qua thuộc miền nam nước Pháp) có màu đen khi mới sinh nhưng lông đổi thành trắng khi ngựa trưởng thành.

- Ngựa có thể diễn đạt cảm xúc bằng tai, mũi, mắt để biểu lộ tâm trạng. Chẳng hạn khi ngựa phình mũi, dựng tai là lúc nó bực giận khó chịu đấy! 


 

Phan Hạnh.