Sunday, 9 February 2014

Vẫn Chỉ Là Một Lời Hứa Suông


 

Vẫn Chỉ Là Một Lời Hứa Suông

 

Phan Hạnh


 

Mỗi năm cứ vào dịp cận Tết ta, tôi hay vương vấn một nỗi buồn thầm kín khi một số người thân quen quanh tôi chộn rộn sửa soạn lên đường về quê nhà Việt Nam cùng đón năm mới với họ hàng thân thuộc. Và như thông lệ, vợ chồng tôi nhờ họ mang về cho thân nhân chúng tôi một món tiền lì xì nho nhỏ. Kèm những lời cám ơn của thân nhân là thắc mắc bao giờ anh chị về. Và đã bốn mươi năm qua, câu trả lời của tôi vẫn chỉ là một lời hứa suông. Tâm hồn tôi vương vấn mãi một nỗi buồn là vì lẽ đó.

 

Năm 1991, đầu niên học mới vào Tháng Chín, tôi bỏ tiền túi ghi danh theo học hai khóa Anh ngữ Dự Bị Ðại Học và viết văn sáng tác (Creative Writing) tại Trường Cao Ðẳng Centennial College, trụ sở Warden Woods (Warden Woods campus). Tôi học part-time lớp đêm mỗi tuần hai buổi tối Thứ Ba và Thứ Năm từ 7 giờ đến 10 giờ vì ban ngày còn phải đi cày kiếm cơm.

 

Năm ấy tôi đã trên 47 tuổi, đầu óc nhụt cùn với lo toan bận bịu, không còn bén nhạy như thời còn trai trẻ, vậy mà tôi cũng liều cắp sách đến trường. Hơn nữa, công việc làm kiếm cơm của tôi là công việc của một người thợ chính điều khiển máy in không đòi hỏi khả năng viết lách chi nhiều ngoài những báo cáo công tác và báo cáo bảo trì định kỳ. Như vậy, tôi học những khóa học này để làm gì? Lý do sâu xa là tôi muốn chuộc lại lỗi lầm của tuổi thơ ham chơi và lười học. Tôi muốn tự bắt mình phải đi học lại như là để trả một món nợ tôi còn thiếu chính mình.

 

Bài tập giáo sư đưa ra cho sinh viên thường là những đề tài chỉ định sẵn sau khi đã học qua trong lớp một truyện ngắn hoặc một tùy bút của một tác giả Anh Mỹ nào đó. Sinh viên phải viết phần giải thích, phân tích, nhận định và phê bình tác phẩm vừa học. Dĩ nhiên tôi rất sợ những bài tập kiểu nầy. Nhiều khi tôi chỉ bình loạn vì không nắm vững đề tài.

 

Nhưng cũng có những bài tập với đề tài do thí sinh tự chọn. Và đối với tôi, không gì thoải mái bằng viết những gì mình biết, nhất là điều mình viết ra chính là những kinh nghiệm của bản thân. Tôi viết và nạp bài đúng hạn. Thuở ấy, giá tiền một máy điện toán còn đắt lắm. Tôi mua một cái máy Apple MacIntosh II với bộ nhớ chỉ có 8 megabites đã dùng rồi mà cũng mất toi ba ngàn đồng.

 

Các bài tập với đề tài tự chọn của tôi đều được điểm cao và được giáo sư phụ trách đích thân khen ngợi, không phải vì văn của tôi viết hay, nếu không muốn nói là còn dở lắm, nhưng vì những câu chuyện tôi kể đó rất xa lạ và thương tâm, dĩ nhiên chỉ đối với vị giáo sư người Canada chưa hề sống ở Việt Nam bao giờ đó. Bà ngỏ ý đề nghị hãy cho đăng một số bài viết của tôi lên hai tờ báo nội san của trường là tờ "The Oracle" và tờ "The Siren". Tôi sợ quá, lắc đầu. Hai hôm sau, một cô chủ bút đến lớp xin gặp tôi. Chẳng biết nghe cô nói êm tai thế nào mà tôi ưng thuận đưa các bài viết cho cô.

 


 

Tôi xin dịch lại một bài có tựa đề One Day I Shall Return: My Naked Lie đăng trên báo "The Siren" ngày Thứ Ba 12 Tháng Mười Một, 1991 như sau.

 

"Một Ngày Kia Con Sẽ Về", Lời Nói Dối Trân Tráo Của Tôi

 

Khi tôi rời quê mẹ ra đi mười sáu năm trước đây, tôi không nghĩ là sẽ gặp lại cha tôi bao giờ nữa. Cách nửa vòng trái đất, tại một trong những nước nghèo nhất thế giới, cha tôi đang hấp hối vì một chứng bệnh ngặt nghèo với một nỗi muộn phiền day dứt và ông đang thầm thì trăn trối lời nguyện ước cuối cùng được nhìn tận mặt lại đứa con trai đầu lòng trước khi từ giã kiếp sống khốn cùng hiện tại.

 

Còn tôi ở Canada, lòng hối hận đau xé vì đã hứa với cha một lời mà tôi biết tôi không bao giờ có thể thực hiện. "Một ngày kia con sẽ về", tôi lập đi lập lại trong những bức thư tôi viết cho cha tôi. Nhưng làm sao tôi có thể trở về Việt Nam khi mà chính quyền Cộng sản ở đấy vẫn còn áp bức người dân bằng sự cai trị khắc nghiệt của họ.

 

Hiện giờ cha tôi có thể đang chờ chết, nhưng một nửa hồn tôi đã chết kể từ ngày 30 Tháng Tư năm 1975, ngày mà quân đội Cộng sản từ phương Bắc rầm rộ bước vào Saigon, thủ đô của một quốc gia độc lập ở miền Nam với tên gọi là Việt Nam Cộng Hòa. Sự kiện này đã kết thúc cuộc chiến được tranh cãi gay gắt nhất, cay đắng nhất đã kéo dài hơn hai mươi năm và giết đi hàng nhiều triệu người từ cả hai bên chiến tuyến.

 

Tôi còn sống sau chiến tranh. Tôi thoát khỏi hỏa ngục đỏ của "Ngày Tận Thế", cách gọi của tôi ngày định mệnh đó theo tựa đề một cuốn phim nói về khía cạnh tàn nhẫn và xấu xa của cuộc chiến Việt Nam.

 

Phải, tôi là một trong những kẻ may mắn trong khi cha mẹ tôi, những thân nhân trong gia đình tôi và bạn bè đồng đội tôi không được may mắn như thế. Họ đã trở thành nạn nhân của một chế độ bất nhân man rợ và một chủ thuyết cuồng tín điên rồ.

 

Tôi đã từng nghe kể nhiều mẫu chuyện quặn lòng về những người tôi thương mến. Có người tự kết liễu đời mình. Họ cảm thấy thà chết còn hơn là sống chung với Cộng sản. Có người cố tìm cách trốn đi bằng những con thuyền mong manh. Có người trong số họ đến được bến bờ tự do. Có người bỏ thây nơi biển cả. Hành trình di cư của những người tìm tự do chưa hề dứt trong mười sáu năm qua. Bức màn sắt không giam hãm được ý chí của con người.

 

Tôi là một người di tản được Canada chấp nhận cho tị nạn chính trị. Tôi không muốn phản bội lý tưởng chính đáng của những người tị nạn khác bằng hành động về thăm Việt Nam Cộng sản, một chế độ mà tôi e ngại có thể sẽ hành hạ ngược đãi tôi như là một kẻ cựu thù.

 

Ngày kỷ niệm Tháng Tư Ðen năm nay rơi vào ngày Thứ Ba, một ngày mà tôi phải làm việc. Ðối với phần lớn người dân Canada, ngày đó cũng như bất cứ ngày nào khác. Ngày hôm đó tôi đi làm với một huy hiệu gắn trên ngực áo nơi tim. Biểu tượng đó rất đơn giản là ba sọc đỏ trên nền vàng. Ðó là màu quốc kỳ của quê hương đánh mất của chúng tôi; và chúng tôi sẽ không bao giờ quên màu cờ đó. Cũng giống như hoa poppy người Canada mang trong ngày tưởng niệm Chiến Sĩ Trận Vong, nó nhắc nhở cho tôi tưởng niệm những anh hùng gục ngã đã chết cho quê hương tôi.

 

Khi nghĩ đến những gì đã xảy ra cho Việt Nam, tôi cảm thấy như có một vết thương cắt sâu trong tim tôi không bao giờ lành. Tôi luôn để tang trong ngày tưởng niệm ấy với những ý nghĩ thương tiếc và buồn đau chờn vờn trong tâm trí. Năm nay tôi nằm thức trong đêm đen tĩnh lặng như một sự kinh cầu cho cố quốc.

 

Năm nay nỗi đau buồn của tôi dường như có phần quặn thắt hơn vì một bức thư đặc biệt. Trở về nhà hôm đó sau một ngày làm việc và nhận được một bức thư dài của em gái tôi tiết lộ cho tôi biết lý do tại sao cha tôi không viết thư cho tôi trong thời gian gần đây. Cô ấy nói mắt của cha tôi đã mờ, bệnh viêm khớp của ông tệ hại hơn và ông rất xuống tinh thần vì làm gánh nặng của thân nhân.

 

Tôi có thể nhớ nét chữ viết của cha tôi rất uốn nắn đẹp đẽ; điều đó chứng tỏ ông rất cẩn trọng với những gì ông viết cho tôi, gián tiếp cho thấy ông quan tâm đến tôi biết chừng nào. Ông đối xử với tôi như một người ngang hàng, một người bạn trao đổi thư tín với nhau. Ông kèm theo thư các bài thơ của ông sáng tác, và ít khi ông đòi hỏi ở tôi một điều ân huệ gì. Ông cũng chẳng bao giờ nói trắng ra là ông thương tôi.

 

Phần nhiều những bức thư của ông chuyên chở thông điệp của những giá trị luân lý, đức hạnh đáng quí trọng, những bài học của trí khôn ngoan, lòng từ bi và bác ái. Tôi để ý càng về già ông càng thuận theo giáo lý của nhà Phật. Ông đơn giản hóa nhu cầu vật chất, đồng thời trau giồi các hoạt động tâm linh. Tôi biết đó là dấu hiệu của sự chuẩn bị sẵn sàng để từ giã cõi thế gian này.

 

Em gái tôi giải thích thêm là cha tôi đã phản ứng như thế nào về cuốn băng thu hình mà tôi đã gởi về tháng trước đó. Tôi và con trai tôi đã bỏ ra rất nhiều công sức để làm ra một cuốn video nói về gia đình tôi ở Toronto. Em gái tôi nói cha tôi khóc nức nở khi ông nghe giọng nói của tôi. Cô ấy viết, "Trông thấy hình ảnh anh di động trên màn ảnh và tiếng nói của anh là một trải nghiệm khốn khổ cho một người già yếu như Ba. Và ngay sau đó thì mọi người khóc theo…". Bức thư kết thúc bằng giòng chữ là, "Ba sợ là sẽ không bao giờ thấy lại anh bằng xương bằng thịt nữa trước khi Ba nhắm mắt; và điều đó thật quá đau lòng cho Ba lắm đó anh…."

 

Ðối với tôi thì nào có khác gì. Lời hứa thối thác của tôi là sẽ về cứ lập đi lập lại mãi nên nó đã trở thành đồng nghĩa với một lời nói dối trắng trợn làm tan nát lòng tôi.

 

Tôi hy vọng có một ngày tôi trở về quê nhà dù chỉ để chết giống như loài cá hồi lội ngược suối nguồn để về nơi sinh ra trong ngày cuối Tháng Tư.

Trong khi chờ đến ngày ấy, trả lời thư em gái, tôi viết,"Một ngày kia anh sễ về", mặc dù tôi biết đó vẫn chỉ là một lời hứa suông thôi.

 

Bài báo chấm dứt ở đấy. Ðáng lẽ tôi cũng có thể chấm dứt câu chuyện ở đây vì thật tình ngồi gõ lại những dòng chữ này, tôi không khỏi cảm thấy rung động trong lòng. Nhưng tôi lại muốn viết thêm về vài biến cố quan trọng xảy ra từ năm ấy cho đến nay. Thêm ba mươi năm nữa đã trôi qua rồi còn gì. Khoảng thời gian dài đó mang theo biết bao thăng trầm đổi thay với một lần đổi việc làm, hai lần dọn nhà và ba lần mua máy điện toán khác.

 

Cha tôi kéo dài thêm cuộc sống trong đau bệnh được hơn một năm mới vĩnh viễn ra đi. Mấy năm sau nữa, em gái tôi được gia đình bên chồng bảo lãnh sang Mỹ. Những tưởng đâu cô ấy được ấm êm với cuộc đời mới nơi xứ người, nào ngờ lễ tuyên thệ vào công dân phải được đặc biệt tổ chức trang nghiêm trong phòng bệnh của em tôi trong bệnh viện. Tôi không bao giờ có thể quên hình ảnh em tôi với cái đầu cạo trọc vẫn ngồi trên giường bệnh gắng gượng đưa cánh tay mặt lên tuyên thệ trung thành với đất nước mới đã cưu mang em. Chỉ vài ngày sau, em tôi đầu hàng định mệnh và ra đi vì chứng bệnh ung thư quái ác.

 

Có lẽ nỗi khổ đau đớn nhất của tôi là phải giấu tin em mất với mẹ tôi trong mấy năm liền. Mỗi lần phải gọi điện thoại về Saigon thăm mẹ, tôi chỉ nói qua loa vắn tắt được mấy câu rồi chuyền máy cho vợ tôi. Tôi sợ rằng tôi không thể nói dối được nữa. Mẹ tôi hỏi sau lâu quá mà không thấy em tôi gọi về. Mọi người giấu quanh, cố tìm đủ mọi lý do để dối gạt mẹ tôi vì sức khoẻ của bà cũng đã suy yếu vì tuổi già lại thêm bệnh tật. Vợ tôi và em rể tôi đều là những người bình tĩnh hơn tôi nên đã giữ được bí mật khá lâu.

 

Thế rồi một lần tôi gọi về, mẹ tôi hỏi, "Em con nó chết lâu rồi phải hôn?". Chúng tôi ngẩn ngơ. Bà tiếp lời, "Bấy lâu nay Má cứ nằm chiêm bao thấy nó hoài..."

 

Cha tôi mất, em gái tôi mất, rồi Mẹ tôi cũng đã từ giã cuộc đời. Về gặp lại cha mẹ và quê cũ mãi mãi vẫn chỉ là một lời hứa suông thôi… cho đến ngày tôi nhắm mắt.

 

Phan Hạnh.

 
 

Tiếng kêu từ quá khứ


Tiếng kêu từ quá khứ

Truyện ngắn - Phan Hạnh


 
 


Sáng hôm ấy, lần đầu tiên cắp tập vở đi học, Trung miễn cưỡng để bà ngoại nắm tay dắt đi. Thỉnh thoảng, cậu bé năm tuổi vùng vằng như muốn phản đối khiến bà ngoại phải bảo:

- “Con đã năm tuổi rồi thì phải đi học đặng năm tới sáu tuổi vô lớp năm trường làng.”

Trung thắc mắc hỏi:

- “Vậy chớ bữa nay đi học trường gì hả Ngoại?”

Bà đáp:

- “Hổng có trường nào hết. Con đi học chùa.”

- “Chùa có thầy chùa mà cũng có thầy giáo nữa hả Ngoại?”

- “Ừa. Thầy chùa dạy học nên cũng là thầy giáo luôn.”

Trung đã tỉnh ngủ hẳn, có thể vì câu nói của bà gợi trong trí óc non nớt của Trung quá nhiều thắc mắc, nhưng cũng có thể vì cơn gió thoảng thổi phớt qua từ cánh đồng lúa bên đường còn phảng phất màn sương. Hai bà cháu ra đến đường cái tráng nhựa là đã thấy quang cảnh có vẻ nhộn nhịp hơn. Một chiếc xe thổ mộ sắp sửa chạy qua, tiếng vó ngựa lóc cóc gõ nhịp trên mặt đường nghe rõ dần. Trung hỏi bà:

- “Mình có đi xe ngựa hôn Ngoại?”

- “Chùa gần xịch đằng kia kìa con. Đi bộ một chút nữa tới hà.”

Gần đến chùa, Trung đã thấy lác đác có vài đứa trẻ khác, mỗi đứa cũng đều có một người lớn đi kèm. Khi mọi người tiến đến gần nhau, bà giục:

- “Khoanh tay thưa bà Sáu đi con. Thưa bác Ba nè. Thưa dì Tư nữa nè.”

Trung làm theo lời bà, mặc dù chẳng phân biệt rõ ai với những ai. Chùa Bình Hạnh nằm phía bên kia con tỉnh lộ, qua một chiếc cầu ván bắc ngang mương dọc bên đường. Mặt trời đã lên tỏa ánh sáng ban mai rực rỡ. Tuy ngôi chùa cũ kỹ xiêu vẹo với những mảng ngói vỡ vụn dọc bên hiên, nhưng trước sân và dọc bên hông chùa có những cây bàng, cây vông, cây điệp với lá hoa nhuộm màu xanh vàng đỏ lẫn lộn khiến cho ngôi chùa mang một vẻ đẹp cổ kính êm đềm.

Bà ngoại dẫn Trung vào chùa đến trước mặt một ông sư trẻ hơn bà ngoại. Ông mặc quần áo nâu, đầu cạo trọc. Bà cúi chào nhà sư và trao đổi với ông vài câu, xong bà bảo Trung:

- “Thôi con ở đây học với thầy nghe. Ngoại còn phải về lo công việc. Xế trưa tan học, má con ra đón con về. Có mấy viên kẹo dừa bỏ túi để tới giờ ra chơi rồi con mới ăn nhen.”

Trung “dạ” rồi nhìn theo bà bước qua cầu, vạt áo dài phe phẩy phất phơ, ngoại ra lộ rồi còn quay nhìn lại. Không có bà bên cạnh, Trung chợt cảm thấy hơi bối rối và lúng túng. Khoảng một chục nhóc tì khác cũng đang lao nhao ngơ ngác. Ông sư vỗ tay ra hiệu bảo:

- “Các trò vào học.”

Lớp học không đâu khác hơn là ngôi chánh điện. Sát gần ngạch cửa ra vào là một cái bàn rộng, bốn bên là bốn băng ghế. Tấm bảng đen chắn giữa như tấm bình phong ngăn chánh điện làm hai phần, lớp học phía ngoài và bàn thờ Phật phía trong. Trên mái ngói và vách bổ kho có nhiều lỗ hổng và khe hở khiến cho tia nắng lọt vào như đèn chiếu. Ông sư lần lượt hỏi tên từng đứa học trò, xong ông viết tên mỗi đứa vào bìa mỗi quyển vở 32 trang và phát ra cho cả đám. Trung nhìn quyển vở có in hình bó đuốc trước bìa. Mặc dù chưa nhận ra mặt chữ và chưa biết đọc, Trung ngẫm đoán hàng chữ viết trên bìa tập là tên mình.

Buổi học đầu tiên trong đời học sinh của Trung chỉ gồm có ba chữ o, ô, ơ mà ông sư viết trên bảng thật lớn. Đám nhóc ê a đọc cả giờ để nhớ mặt chữ. Thấy như vậy đã tạm đủ, thầy hô:

- “Thầy cho các em ra chơi.”

Đám nhóc vẫn ngồi ì ra đó, đứa nào cũng khòm lưng tì khuỷu tay lên bàn. Chúng ngồi ì vì chẳng hiểu ra chơi là gì; khòm lưng vì cả giờ ngồi bàn thấp mà ghế không có chỗ dựa không quen nên đã mỏi. Đến khi thầy nhắc lại “Đi ra sân chơi đi” thì bọn nhóc mới chợt hiểu và phóng nhanh ra khỏi chùa, tha hồ chạy nhảy tung tăng, lượm trái bàng, bứt bông điệp, lá vông, cỏ cú. Trung lôi mấy cục kẹo chuối ra ăn. Kẹo chuối dẻo nhẹo dính răng khó chịu, Trung khát nước mà không dám hỏi.

Đến trưa, khi thấp thoáng thấy bóng mẹ đứng dưới tàng cây điệp chờ tan lớp, Trung cũng đã nghe bụng cồn cào đòi cơm. Cậu bé mừng rỡ đưa quyển tập ra khoe, chỉ cho mẹ hàng chữ ngoài bìa và hỏi:

- “Má ơi, có phải ông thầy chùa ổng viết tên con hôn hả Má?”

Mẹ Trung đáp “Phải”, xong dặn con:

- “Mà con đừng kêu ổng là “ông thầy chùa” nữa nhen.

- “Ông thầy ở trong chùa thì là ông thầy chùa không phải sao Má?”

- “Ờ… ừ… nhưng Má nghe nó kỳ kỳ làm sao á… Mà thôi, chắc con đói bụng rồi phải không? Về lẹ đi rồi Má dọn cơm cho ăn. Có tép rang và có canh chua bạc hà ngon lắm đó.”

Trung hí hửng nắm tay mẹ bước mau vừa bi bô hai câu mới học:

O tròn như quả trứng gà

Ô thì đội nón, ơ thì có râu.

Trên quốc lộ nối liền Mỹ Tho và Gò Công, hai chiếc xe nhà binh chạy vút qua làm cát bụi tung lên che khuất hai mẹ con Trung vừa rẽ vào con đường quê rợp mát bóng dừa để về nhà.


Thầy Bửu Tâm đứng nhìn lớp học trống không, thử tập trung ý tưởng hình dung lại từng khuôn mặt thơ ngây của đám học trò mới và nghe lòng dậy lên một niềm an ủi và mãn nguyện đối với công việc mà thầy ưa thích. Thầy bước ra sau tấm bảng đen tiến đến trước bàn thờ Phật, chắp tay cúi đầu và lâm râm tụng niệm. Bỗng có tiếng xe nhà binh chạy ngang qua vừa bóp kèn inh ỏi.

Năm ấy là năm 1949, tính ra thầy đã trụ trì ở đây được bốn năm. Tông tích thầy Bửu Tâm như thế nào dường như ít ai trong làng được rõ. Người ta chỉ biết thầy là người có học, nói giỏi tiếng Pháp vì nhiều lần thầy đã giúp dân làng làm giấy tờ kiện tụng ở quận đường. Người ta chứng kiến thầy đối đáp với quan hai người Pháp lưu loát. Mấy năm nay, thầy mở lớp học vỡ lòng tại chùa để giúp trẻ em trong làng chuẩn bị chính thức theo học trường làng năm kế tiếp.

Sinh hoạt hàng ngày của thầy đầy ắp bận rộn từ sáng sớm tới nửa khuya, từ tụng kinh niệm Phật tới trồng trọt rau cà rồi xoay qua dạy vỡ lòng cho đám trẻ. Một ít tương chao hoa quả do dân làng dâng tặng nữa là thầy có đủ hai bữa ăn qua ngày.

Gần đây, quân du kích kháng chiến Việt Minh gia tăng hoạt động quấy rối ở các miệt Giồng Lớn, Ông Văn, Hòa Đồng lân cận. Đại đội Bảo An thuộc Tiểu Đoàn 306 đóng dưới Bến Đò thường thường phải đi tăng viện cho các đồn Dân Vệ khi họ bị tấn công. Hầu hết trai tráng trong làng đều vắng bóng và chỉ còn lại phụ nữ trẻ em và đàn ông lớn tuổi hay tật nguyền. Ba của Trung, sau nhiều lần bị cả hai phe Việt Minh và quân chính phủ thay phiên nhau bắt vì tình nghi, đã phải lên thủ đô Sài Gòn tìm kế sinh nhai, tạm thời gởi gấm vợ con cho cha mẹ vợ.

Phần thầy Bửu Tâm, tuy đã qui y cửa Phật nhưng cũng không thoát khỏi vòng hệ lụy. Một mặt quan quận mến trọng tài đức của thầy nên hay cho xe đón thầy tới quận đường để tham khảo ý kiến. Mặt khác Việt Minh cũng cho người tiếp xúc mời thầy cộng tác. Cán bộ cấp cao của Việt Minh từ tận Bến Tre qua vời thầy, nhưng thầy một mực từ chối.

Phiền não bủa vây, hôm nay cũng như nhiều lần khác, tiếng xe nhà binh chạy rầm rập không khỏi khiến cho thầy một thoáng suy tư lo nghĩ. Thầy bèn mượn câu kinh tiếng kệ để giải tỏa nỗi ưu tư. Trong giây lát, tiếng chuông mõ giúp cho thầy an định tinh thần trở lại.


Trung theo học ở chùa Bình Hạnh đã được ba tháng. Giờ đây Trung đã quen viết được bằng tay mặt nhờ sự kiên nhẫn của thầy Bửu Tâm. Trung cũng nhớ hết tất cả các chữ cái cùng với một số rất nhiều bài học thuộc lòng. Ngôi chùa đã trở thành nơi Trung ham thích đến mỗi ngày và có thể đi cùng với mấy đứa bạn trong xóm mà không cần bà ngoại hay mẹ đưa đón nữa. Có cả những buổi xế chiều ngoài giờ học, sau khi đã tan học và đã về nhà dùng bữa ăn trưa, Trung cùng vài đứa bạn hẹn nhau trở lại chùa để vui đùa. Vui đùa chán rồi, đám nhóc xin thầy cho việc lặt vặt để phụ: nhổ cỏ, tưới rau. Thầy dặn bọn Trung nếu thấy sâu trong đám rau cải thì đừng có bắt, cứ để cho chúng ăn tự nhiên. Ba tháng học ở chùa Trung có biết bao là kỷ niệm khó quên. Nơi đó Trung đã bắt chước làm người rừng Tạc Giăng đu rễ cây bàng và bị té lọi khuỷu tay phải bó thuốc bắc. Nơi đó Trung đi chân đất đạp miễn sành chảy máu. Nơi đó một lần Trung lén đu xe ngựa bị té đập đầu xuống lộ.

Một lần nọ Trung chơi nghịch lấy miễn ngói chọi con cắc kè trên cột kèo mái chùa. Thầy bắt gặp tại trận và ôn tồn hỏi:

- “Trung nè. Tại sao con chọi nó vậy?”

Trung đáp:

- “Thưa thầy. Tại nó cứ kêu cắc kè cắc kè nghe bực mình quá.”

- “Tại sao mấy năm nay thầy nghe nó kêu thầy không bực mình mà con bực mình?”

- “Tại nó làm tàng đã bị con chọi mà cứ kêu hoài.”

- “Nếu con chọi nó chết rồi từ nay về sau con không còn nghe nó kêu nữa, con có nhớ tiếng kêu đó không?”

Trung đứng tần ngần nghĩ ngợi một lúc lâu xong thành thật đáp:

- “Dạ thưa thầy con có nhớ.”

- “Vậy bây giờ con có còn muốn chọi cho nó chết không?”

- “Dạ thưa thầy không.”

Thầy xoa đầu Trung mỉm cười hiền từ:

- “Con giỏi lắm. Thôi đi chơi đi.”



Một hôm, vào lúc buổi trưa nắng gắt, lớp học đang sắp sửa tới giờ tan, một chiếc xe Jeep nhà binh bỗng bị bể bánh và ngừng lại ngay bên đường trước chùa. Có tiếng người nói lao xao rồi một người mặc thường phục chỉnh tề có hai người lính cầm súng tiểu liên và quàng dây đạn trên vai đi vào chùa. Thầy Bửu Tâm bước ra thềm mời khách vào. Không đợi bảo, tất cả học trò đều đứng dậy cúi đầu chào khách. Vị khách lịch sự nói:

- “Thầy cho chúng tôi ngồi tạm đây tránh nắng là đủ. Xin thầy cứ tự nhiên.”

Nhìn qua lớp học với đám học trò im lặng ngoan ngoãn, vị khách buộc miệng khen:

- “Học trò của thầy có kỷ luật và lễ phép quá, thật đáng khen.”

Bấy giờ thầy Bửu Tâm mới nói:

- “Cám ơn quan quận. Quan quận có cần gì thì cứ dạy bảo.”

Vị khách vội đáp:

- “Dạ không dám. Chẳng may xe tôi chạy tới đây bị bể bánh. Trong lúc chờ tài xế thay bánh xe khác, chúng tôi vào đây trước là để tránh nắng, nhân tiện có dịp quan sát cảnh chùa và lớp học của thầy mà chúng tôi có nghe tiếng.”

Khi chiếc xe được thay bánh xong thì lớp học cũng tới giờ tan. Ông quận và mấy người lính lên xe phóng đi, bọn nhóc vẫy tay nhìn theo xe chạy khuất rồi mới lục tục ra về. Trên đám ruộng bên đường gần đó, một đám thợ đội nón lá đang gặt lúa. Trong đám dân chân lấm tay bùn, một cặp mắt cú vọ của Việt Minh đã theo dõi mọi diễn tiến của sự việc vừa xảy ra.

Đêm ấy, giữa lúc Trung đang ngủ, mẹ lay Trung dậy rồi bò xuống gầm giường. Trung nghe có tiếng chân người chạy thình thịch ngoài đường đất, đồng thời có tiếng mõ bằng gáo dừa vang dậy cùng với tiếng chó sủa văng vẳng đâu đó. Thế rồi có tiếng súng nổ xa xa. Trung nghĩ đến hai người lính cận vệ của ông quận trưởng mang súng tiểu liên lúc trưa ở chùa. Trung thơ ngây nghĩ chắc những tiếng súng nổ đó là do hai người lính đó bắn. Lạ lùng là Trung nghe tiếng súng không sợ bằng tiếng gõ mõ dừa trăng ăn. Đó là những trái dừa còn xanh nhưng đã bị sóc hay chuột khoét thủng lỗ rỗng ruột rụng xuống đất. Người ta dùng một khúc gỗ gõ trái dừa như gõ mõ. Tiếng mõ dừa có âm điệu cao thấp khác nhau, lúc chậm đều, lúc dồn dập gấp rút nghe ghê rợn như tiếng ma quỷ réo gọi mạng người. Tiếng chân người nện mạnh trên nền đất rồi tiếng một người trong bọn họ hô vang thật lớn, Trung nghe thật gần như sát bên hè: “Đả đảo Bảo Đại! Ủng hộ Hồ Chí Minh!”, tức thì ngay sau đó, cả đám người đồng loạt hô theo.

Xen lẫn giữa mớ âm thanh hỗn độn đó, Trung tưởng chừng như nghe cả tiếng tim đập của chính mình và của mẹ vì hai tay bà đang ôm chặt Trung vào lòng. Hai mẹ con truyền cho nhau nỗi sợ hãi và sự che chở. Dưới căn hầm cạn tù túng ngột ngạt mà hai mẹ con run rẫy như lên cơn sốt nóng lạnh. Trung hồi hộp muốn nghẹt thở. Ngoài kia thỉnh thoảng lại vang lên một tiếng nổ ầm lớn của súng cối hay đại bác bắn vu vơ dọa nạt. Sau đó Trung nghe tiếng xe bọc thép chạy ngoài lộ. Tiếng mõ dừa dứt hẳn. Tiếng hô khẩu hiệu tuyên truyền nín bặt. Và tiếng chân người chạy nhanh hơn, dồn dập hơn. Cả tiếng súng máy cũng ngưng, chỉ còn lại tiếng súng cá nhân nổ lẻ tẻ cùng với tiếng động cơ xe bọc thép chạy rầm rì. Bấy giờ Trung mới nghe tiếng mẹ nghẹn ngào: “Thiệt khổ quá con ơi…” Tiếng than thở của mẹ phát ra như thể đã chất chứa dồn nén quá nhiều chịu đựng từ lâu, thế nhưng nó chỉ phát ra một cách yếu ớt như có một sức nặng vô hình nào đè mạnh lên trên đến không thể vang lớn hơn được nữa. Phải chăng đó là nỗi sợ hãi của người cô thế trước sự tàn ác.

Trong bóng tối dầy đặc, tiếng của bà ngoại từ một góc nào đó gọi nhỏ: “Má con thằng Trung đâu? Chắc đã yên rồi. Thôi lên giường ngủ đi.”

Trung leo lên giường nằm co; mẹ Trung tấn mí mùng lại kỹ càng, nằm xuống choàng tay qua vai con. Một lúc sau Trung đã nằm yên ngủ say.

Sáng hôm sau, khi vừa ra đến đầu lộ để đi học, Trung đã thấy nhiều người đi lại hơn mọi ngày. Trung ôm chiếc cặp đệm dưới nách rảo bước. Khi gần đến chùa, Trung thấy hai chiếc xe nhà binh đậu ở đó. Một đám đông vừa dân vừa lính đứng trước sân chùa. Trung đến gần hơn, một người đặt tay lên vai Trung và nói: “Thầy Bửu Tâm chết rồi.” Trong lúc Trung vẫn còn đang bàng hoàng, một người khác nói lớn: “Mấy em học trò đâu? Mau gom lại đây.”

Trung bước về hướng người đó đang đứng ở một khoảng trống trước sân. Trung gặp thằng Ngọ, bạn học thân nhưng lớn hơn Trung một tuổi. Ngọ mếu máo: “Thầy mình chết rồi kia kìa.” Nhìn theo tay Ngọ chỉ, Trung thấy một cái thây nằm ngửa trên đám cỏ cú bên cạnh cây điệp già. Trung vụt chạy đến đó để nhìn kỹ hơn. Chiếc áo nâu bê bết vết máu khô. Một tờ giấy cứng có viết mấy chữ để trên ngực của cái thây, Trung không biết chữ gì nên đứng đó chờ để nghe lóm người lớn nói chuyện. Một người đọc: “Việt gian đền tội.” Một người lính nói: “Quan Quận không để yên vụ này đâu. Vài bữa nữa điều tra xong thì coi ai đền tội cho biết.”

Viên chức của làng lúc nãy bảo học trò họp lại, một lần nữa lên tiếng: “Các trò nghe đây. Đêm hôm qua thầy Bửu Tâm đã bị Việt Minh giết chết. Vậy các trò hãy lo về nhà rồi sáng mai có mặt tại đây để làm lễ chôn cất thầy. Nhớ ăn mặc cho sạch sẽ. Bận áo trắng thì càng tốt.”

Trung nấn ná cùng Ngọ ở lại và vào xem lớp học. Tất cả bàn ghế đã bị đập phá và đốt cháy, than gỗ nằm ngổn ngang cùng với đám ngói bể. Trần nhà cũng bị cháy, kèo cột nám đen. Tấm bảng đen đã ngã sập, bàn thờ và tượng Phật dường như chỉ bị nám khói.

Trung hỏi Ngọ:

- “Tại sao họ giết thầy?”

Ngọ đáp:

- “Hồi sáng nầy tao nghe ông nội tao nói với bà nội tao là Việt Minh xử tử thầy vì họ đổ tội thầy làm việc với giặc.”

Trung ngây thơ hỏi:

- “Giặc nào?”

- “Thì Việt Minh kêu quân chính phủ là giặc đó,” Ngọ giải thích.

Có tiếng của viên chức làng: “Mấy trò đi về nhà đi. Tránh chỗ cho người lớn làm việc.”

Trung cũng nôn nao muốn về nhà để hỏi mẹ và bà ngoại cho kỹ nên chào từ giã Ngọ rồi lủi thủi bước. Vậy là Trung không còn được đi học và phải chờ tới mùa tựu trường năm tới. Trung đi một đoạn trên quốc lộ, xong rẽ vào bờ ruộng đi lối tắt băng ngang qua vườn ông cả Thới hàng xóm của ngoại để về nhà cho lẹ. Trung đạp trúng một miễn sành, may mà không bị đứt chân. Trung lượm miễn sành để quăng vô bụi tre cho ai đi lần sau khỏi đạp nữa. Bỗng Trung nhớ tới con cắc kè, nhớ tới chỗ nó làm ổ trên kèo nhà dưới mái hiên chùa. Nơi đó đã bị cháy sập, biết con cắc kè còn sống hay đã chết theo thầy.

Trung lại nhớ lời thầy hỏi “từ nay về sau con không còn nghe nó kêu nữa, con có nhớ tiếng kêu đó không?” Trung nhớ rõ lắm, cho tới bây giờ 65 năm sau vẫn nhớ.

Phan Hạnh.

 

Gia sản là con đó


 


 Truyện ngắn Phan Hạnh

 


Hình minh họa

 

Sau sáu năm xa cách, tình cờ tôi gặp lại một người bạn lính ở Sài Gòn trong một lần tôi đi phép về thăm nhà vào năm 1970. Hôm đó là một ngày cuối tuần, tôi mượn đỡ chiếc xe Mobilette cũ của cha tôi để đi xem phim và đi ăn quà vặt, một thú vui tôi đã ghiền từ ngày còn đi học.

 

Con đường Nguyễn Văn Sâm của Quận Nhì thủ đô Sài Gòn có lề đường rộng rợp bóng hàng cây me già nên nhiều xe bò viên, bò bía, gỏi đu đủ bò khô cắm dùi ở đấy, sáng sớm xếp ghế bày hàng, đến tối khuya bán hết xong thì thu dẹp. Đối diện bên kia đường là một ngôi biệt thự bệ vệ sơn màu xanh nổi bật.

Tôi tự hỏi tại sao trước đây tôi lại không để ý đến ngôi biệt thự cho đến bây giờ, mặc dầu mười mấy năm trước đó, khi còn là một thằng nhóc, tôi hay đạp xe đạp rảo qua các đường trong khu vực này để bắn me và đổ xí ngầu lác ăn bò viên. Bây giờ, các xe bò viên vẫn còn cho khách chơi trò vừa ăn bò viên vừa hưởng thứ cảm giác hồi hộp của cờ bạc, nhưng tôi không tham dự nữa.

 

Tôi cũng muốn cầm ba hột xí ngầu bằng nhựa gọn trong lòng bàn tay, lắc cho chúng trộn lộn tùng phèo va chạm nhau phát ra tiếng lắc xắc rồi buông năm ngón tay cho chúng rớt xuống cái tô sứ, mong sao chúng ngừng yên với ba mặt sáu, số điểm tối đa, hiện ra. Dù gì bây giờ tôi cũng đã trở thành một sĩ quan, tôi cần giữ gìn tác phong quân đội.

 

Tôi hỏi ông Tàu người Triều Châu bán bò viên: “Cái nhà bên kia đường là của ai vậy chú?”

 

“Nhà của ông Dương Hồng Bá đó!”, ông Tiều (tôi gọi đại tên như vậy cho dễ) vừa dùng cái rây làm bằng sợi đồng vớt những viên bò viên ra khỏi thùng nước lèo và trút ra một hàng tô trẹt năm, sáu cái.

 

“À thì ra vậy!”, tôi chợt nhớ ra. Đọc qua một loạt bài phóng sự trên báo chí Sài Gòn, tôi có nghe danh ông nhà giàu này. Thật ra, tôi có gặp người con tên Dương Hồng Anh của ông nhà giàu đó nữa ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung năm 1964. “Hóa ra nhà của nó đây”, tôi nhủ thầm. Trong những ngày đầu bở ngỡ nơi quân trường, một lần cùng đi làm tạp dịch gặp nhau, hỏi thăm quê quán của nhau, chúng tôi mới biết là hai đứa cùng ở Quận Nhì Sài Gòn. Nó có vẻ mừng rỡ hỏi dồn “Nhà ở đường nào? Học trường nào?”, tôi đáp “Đường Đề Thám. Học trường Hưng Đạo”.

 

- “Biết nhà thờ Tin Lành hôn?”, nó hỏi tiếp.

 

- “Biết chớ! Ngay góc Đề Thám - Trần Hưng Đạo chớ đâu”, tôi rành rẽ sáu câu.

 

- “Mấy năm trước tao hát trong ca đoàn nhà thờ đó đó”, nó khoe.

 

- “Vậy hả? Vậy nhà mầy ở đường nào?”, tôi hỏi. Nhưng thằng Anh chưa kịp trả lời thì cán bộ Thới, trung đội trưởng khóa sinh của tôi, nạt lớn:

 

- “Ê! Hai anh điếc hả? Vào hàng tập họp!”

 

***

 

Thấm thoát ba tháng huấn luyện căn bản ở Quang Trung đã qua, tôi đáp xe lửa đi Nha Trang theo học Khóa 20 Hạ Sĩ Quan Trừ Bị ở Trường Đồng Đế, còn thằng Dương Hồng Anh đi đâu tôi chẳng biết. Mãi cho đến đầu năm nay, hình ảnh nó sống lại trong trí tôi.

 

Loạt phóng sự viết về hai cha con họ Dương Hồng cùng chia sẻ chung niềm đam mê sưu tầm đồ cổ và tranh nghệ thuật. Họ cùng nhau đi nhiều nơi khắp nước để tìm kiếm những bức tranh đẹp nhất cho bộ sưu tầm của họ. Ông Bá đi ra Huế nhiều lần. Con ông đi Nam Vang và Vọng Các đôi ba bận. Những người trung gian không ngớt mang món hàng đến ngôi biệt thự kín cổng cao tường canh chừng cẩn mật này để giới thiệu và thương lượng.

 

Theo báo đăng, vợ ông Bá mất vì bệnh ba năm trước. Người chồng góa bụa hài lòng với cuộc sống bên cạnh đứa con trai duy nhất của ông ngày nay đã trở thành một nhà sưu tầm tranh quí đầy kinh nghiệm. Năng khiếu kinh doanh và tài nhận xét bén nhạy tinh tế của đứa con khiến cho ông vững tin khi hai cha con đi giao thiệp và thương thảo với giới con buôn trong nước lẫn quốc tế. Đọc bài phóng sự, tôi nghĩ “Quái lạ thật! Thằng Dương Hồng Anh tôi gặp ở Quang Trung năm nào chẳng lẽ là người này? Hay chỉ là người khác trùng tên?

 

Họ là hai cha con nhà giàu chia sẻ chung niềm đam mê sưu tầm tranh nghệ thuật. Họ cùng nhau đi khắp các xưởng vẽ của các họa sĩ và tiệm bán tranh khắp nơi trên quê hương Việt Nam để tìm kiếm những bức tranh mà họ cho là giá trị nhất cho bộ sưu tầm của họ. Các bức tranh xưa của nhiều họa sĩ tài danh khác treo đầy trên tường ngôi nhà đồ sộ. Người cha già góa bụa lấy làm hài lòng với đứa con trai duy nhất của ông ngày nay đã trở thành một nhà sưu tập nghệ thuật đầy kinh nghiệm. Năng khiếu kinh doanh và tài nhận xét bén nhạy tinh tế của đứa con khiến cho ông vững tin khi hai cha con đi giao thiệp và thương thảo với giới con buôn tranh mỹ thuật ở các quốc gia lân cận ở Đông Nam Á.

 

Thế rồi năm 1972 ấy, đất nước đắm chìm trong chiến tranh, Bộ Quốc Phòng ban lệnh tổng động viên, nhiều thành phần dân sự chuyên môn được miễn hoãn dịch trước đó đều nhận được lệnh gọi nhập ngũ. Ông Bá đành lòng nhìn người con bị động viên từ giã cha để lên đường cầm súng bảo vệ quê hương. Một thời gian sau, ông nhận được một bức điện tín báo tin con trai yêu quí của ông đã mất tích trong một trận đánh kinh hoàng ở địa đầu giới tuyến. Ông ngồi đứng không yên nôn nóng ngóng chờ  thêm tin tức và lo sợ ông sẽ không bao giờ còn nhìn thấy con trai mình nữa. Nỗi lo sợ của ông đã thành sự thật. Ông được xác nhận là con ông đã chết trong lúc anh cố gắng cứu một đồng đội bị thương. Quẫn trí và cô đơn, ông thẫn thờ đón chờ ngày lễ Giáng sinh sắp tới với nỗi thống khổ buồn đau. Niềm háo hức của hai cha con dự tính trước đó rằng  sẽ vui hưởng một Giáng sinh êm đềm không còn nữa.

 

Vào buổi sáng Giáng sinh, tiếng gõ cửa đã đánh thức ông già đang trong cơn trầm cảm. Khi đi ngang qua những tấm tranh treo trên tường để bước ra cửa, những kiệt tác nghệ thuật đó nhắc nhở ông rằng con trai của ông không bao giờ trở về nữa. Ông mở cửa, một người lính chào ông và trao cho ông một gói lớn. Người lính tự giới thiệu và nói:

 

- "Thưa bác, cháu là một người bạn đồng đội con trai bác. Cháu chính là người mà anh ấy đã tiếp cứu khi anh bị trúng đạn tử trận. Cháu có thể vào nhà thưa chuyện với bác một lúc được không?” 

 

Khi hai người bắt đầu nói chuyện, người lính kể lại rằng con trai ông đã nói với tất cả bạn đồng đội về sự đam mê sưu tầm tranh mỹ thuật của cha con mình. Người lính nói:

 

- "Cháu là một họa sĩ và cháu xin kính tặng bác bức tranh này." 

 

Vốn là người mê tranh, ông nhận lấy và mở gói ngay để xem tranh gì. Giấy gói bóc hết ra để lộ một bức chân dung của con trai ông. Mặc dù không thể xem đó là một tuyệt tác bởi một thiên tài hội họa nhưng bức chân dung nổi bật khuôn mặt người thanh niên với từng chi tiết rất ấn tượng. Cố dằn nén cảm xúc, người đàn ông già nua run giọng tỏ lời cảm ơn người lính và hứa sẽ treo bức tranh trên lò sưởi.

 

 Hình minh họa

 

Sau khi người lính đã chào từ giã ra về, người cha già đơn độc bắt tay ngay vào việc treo tranh. Ông gỡ xuống bức tranh trị giá hàng nhiều chục ngàn trên lò sưởi và treo bức chân dung của con ông thế vào chỗ trống.  Nhiệm vụ hoàn thành, ông ngồi trong ghế bành quen thuộc của mình và trải qua ngày Giáng Sinh chỉ nhìn đi nhìn lại món quà ông vừa được ban cho.

 

Trong những ngày kế tiếp sau đó, tuy biết rằng con trai mình không còn thực sự sống trên cõi đời này nữa nhưng ông được biết con ông sẽ sống mãi trong tim của nhiều đồng đội. Lần lượt ông được kể cho nghe về sự can trường của đứa con thân yêu ngoài mặt trận đã cứu được nhiều mạng người khác trước khi anh bị một viên đạn bắn trúng ngay tim và cướp đi mạng sống của chính anh.

 

Những câu chuyện về lòng dũng cảm của đứa con trai tiếp tục được nhiều người khác kể cho ông nghe; niềm tự hào và sự hài lòng của người cha bắt đầu có thể làm giảm bớt nỗi đau buồn. Bức tranh của con trai sớm trở thành vật sở hữu được ông trân quí nhất và ông không còn thiết tha quan tâm đến các bức tranh khác trong nhà mà các lái buôn tranh quý thèm muốn. Ông tâm sự với hàng xóm rằng đó là món quà lớn nhất mà ông từng nhận được.

 

Mùa xuân sau, ông già lâm bệnh qua đời. Giới nghệ thuật dự đoán rằng vì người con trai duy nhất của ông đã chết, những bức tranh sẽ được bán đấu giá. Đặc biệt là theo di chúc của ông già, tất cả các tác phẩm nghệ thuật sẽ được bán đấu giá vào ngày Giáng Sinh, ngày mà ông đã nhận được món quà lớn nhất. Ngày ấy đã đến và giới sưu tầm nghệ thuật và các lái buôn tranh quý tụ tập để hầu mua được những bức tranh ngoạn mục nhất của ông. Ước nguyện sẽ được hoàn thành trong ngày này khi có người nào đó sẽ tuyên bố "Tôi là người làm chủ những bức tranh quý nhất trong bộ sưu tầm tranh của Dương Hồng Anh."

 

Cuộc bán đấu giá được bắt đầu với một bức tranh không nằm trong bất kỳ bản danh mục nào của viện bảo tàng. Đó là bức chân dung của người con trai của ông già. Người bán đấu giá tuyên bố mở thầu nhưng cả căn phòng đều im lặng. Ông ta hỏi:

 

- "Ai sẽ mở thầu giá 1000$?" 

 

Mấy phút trôi qua, không ai lên tiếng. Từ phía sau của căn phòng, một tiếng nói vang lên:

 

- "Ai thèm quan tâm đến bức tranh đó mà làm gì. Nó chỉ là bức ảnh của con trai lão ta."

 

Một giọng khác gào:

 

- "Hãy dẹp nó đi và hãy chuyển sang những bức tranh đáng quí!"

 

Nhiều người khác đồng tình reo lên:

 

- “Đúng rồi! Dẹp nó qua một bên đi!”

 

Người chủ trì cuộc bán đấu giá nói:

 

- "Không, chúng tôi phải bán bức này trước đã."

 

Xong ông ta hỏi tiếp:

 

- "Bây giờ ai là người sẽ mua bức chân dung này?”

 

Cuối cùng, một người hàng xóm của ông già nói:

 

- "Tôi muốn mua nhưng tôi chỉ có tất cả chưa đủ một ngàn đồng. Ông bán nó cho tôi được không? Tôi quen biết cậu ta, vì vậy tôi muốn mua bức tranh đó.”

 

Người phụ trách cuộc bán đấu giá nói:

 

- “Dưới một ngàn đồng! Có ai trả cao hơn không?”

 

Sau một lúc chờ đợi trong sự im lặng của gian phòng, người bán đấu giá nói:

 

- "Một lần! Hai lần! Xong!"

 

Ông gõ mạnh búa gỗ xuống bàn. Một người háo hức hối:

 

- “Bây giờ chúng ta có thể bắt đầu đấu giá tranh quí thứ thiệt rồi đó.”

 

Người bán đấu giá nhìn vào khán giả và thông báo rằng việc bán đấu giá đã kết thúc. Sự bàng hoàng vì hoài nghi bao trùm cả phòng.  Một người nào đó lên tiếng hỏi:

 

- "Ông nói kết thúc như vậy là nghĩa gì? Chúng tôi không phải đến đây chỉ vì một bức tranh của con trai ông già mà là vì những bức tranh nghệ thuật trị giá hàng mấy chục ngàn đồng kia kìa! Tôi yêu cầu ông giải thích.” 

 

Người bán đấu giá trả lời:

 

- "Đơn giản thôi. Di chúc của người cha nói là ai mua bức tranh của người con trai ông ta thì nhận được tất cả những bức tranh còn lại."

 

Qua câu chuyện này, chúng ta hãy nghĩ kỹ lại mà xem. Tại sao tác giả lại chọn nó xảy ra vào ngày Giáng Sinh, phải chăng nó mang thông điệp rằng tình thương yêu của người cha (hay Chúa Cha) luôn dành cho người con và niềm vui cao cả hơn hết là khi thấy người con hy sinh mạng sống của chính mình để cứu rỗi được nhiều sinh mạng khác. Và vì tình yêu của người cha (Chúa Cha), kẻ nào chọn người con (Chúa Con) thì sẽ có được tất cả.

 

Phan Hạnh.

Phóng tác theo một câu chuyện Anh ngữ không đề tên tác giả.